Có một nơi mọi người đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi, gặp nhau mỗi tuần một lần, hàng tháng cùng nhau đi dã ngoại để luyện tập, để cười vui, để chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Đó là chính là Câu lạc bộ Dưỡng sinh Năng lượng thuộc chi hội y học Esperanto - Hà Nội của chúng tôi. "Vui, khỏe, sống có ích cho đời" là mục tiêu của Câu lạc bộ chúng tôi.
Đề nghị ghi rõ nguồn http://luatamuoi.com/ khi sao chép những bài viết chia sẻ từ trang Câu lạc bộ DSNL.
Mọi liên hệ xin gửi về một trong 3 địa chỉ ở mục LIÊN HỆ. Xin trân trọng cảm ơn."

Thứ Ba, 6 tháng 4, 2010

THIỀN LỬA TAM MUỘI TÔI ĐƯỢC XOÁ ÁN TỬ HÌNH

Tôi là Ngô Thị Thoa, 81 tuổi, ở tại số nhà 9 ngách 3 ngõ 163 Tôn Đức Thắng, Phường Hàng Bột - Quận Đống Đa - Hà Nội. Hiện nay tôi đang sinh hoạt tại CLB Dưỡng sinh năng lượng, Hà Nội.
Tôi bị ung thú vú thể cuối - thể ống xâm lấn - Khoa y học hạt nhân Viện quân y 108 và Bệnh viện K kết luận: “Hiện tượng di căn xương mô tả, di căn xương L4 + L5, D10 - D11 -D12.” Khi biết mình bị bệnh hiểm nghèo luôn mang trong mình một bản án tử hình. Cái chết nào cũng đau buồn, nhưng trước cái chết vì bệnh tật khác thường có sự chuẩn bị trước như nằm liệt giường một thời gian hay chết vì tuổi già. Thế nhưng bệnh ung thư không báo trước cho ai mà cứ thấp thỏm chờ ngày thi hành án. Căn bệnh ung thư không những gây ra đau đớn về tinh thần và thể xác của người bệnh mà nó còn lấy đi quá nhiều tiền bạc của những ai không may mắn mắc phải căn bệnh này.
(Bác Thoa - người mặc áo dài vàng - dự lễ kỉ niệm thành lập CLB năm 2009)
Tôi tham gia sinh hoạt tại CLB DSNL từ những ngày đầu, được các Thầy hướng dẫn thiền Lửa Tam Muội, chỉ trong một thời gian ngắn là da dẻ hồng hào, hết đau đớn, sức khoẻ tốt như người bình thường. Có phần còn khoẻ hơn là khi chưa mắc bệnh. Qua xét nghiệm của bệnh viện K kết luận bệnh của tôi ổn định, sức khoẻ tốt.
Bên cạnh bệnh hiểm nghèo tôi còn mắc bệnh gút và mỡ máu cao. Các bác sĩ ở bệnh viện Saint-Paul bảo tôi là: “Bác bị bệnh gút thì phải chịu đau đớn thôi.”
Đến Câu lạc bộ Thiền, các bàn tay nóng bỏng kỳ diệu của các Thầy khi đặt vào các luân xa thì dường như có một ngọn lửa thu hút những nỗi đau, bệnh tình giảm hẳn. Bệnh gút sau 2 tháng thiền và được các Thầy hỗ trợ, tôi đã khỏi không tái phát hay sưng đau gì nữa, cả mỡ máu cao cũng hết. Không phải riêng tôi mà trong CLB có hàng chục người bị ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư tuyến giáp, ung thư phổi, ung thư xương, u mỡ, u tử cung... đến lớp thiền đều được khoẻ mạnh hẳn lên, bệnh tật lui dần và khoẻ hẳn như chị Hiền, chị Hồ, chị Hà, chị Loan, chị Nhâm... đều được xét nghiệm của bệnh viện và kết luận hết u. Bệnh tiểu đường như chị Tươi, chị Quyên, xét nghiệm và theo dõi ổn định ở mức 5,2 - 6,5. Bệnh u não như anh Hà, bị mờ mắt không nhìn thấy gì, sau một thời gian ngắn đã bình phục trở lại, làm việc bình thường. Chị Bình cũng u não chữa ở bệnh viện 108, chị bị đau đầu liên tục, bệnh viện nói chị phải chung thân với bệnh này nếu chị không mổ. Thế mà chỉ thiền và hỗ trợ của Thầy Hùng mà hết đau đầu, bệnh tình thuyên giảm hẳn.
Tôi đã đi theo Thầy Hùng đến các chùa phổ biến thiền Lửa Tam Muội và hỗ trợ cho bệnh nhân bằng năng lượng, không dùng thuốc ở Hoài Đức, Đông Anh. Càng đi sâu vào phương pháp này tôi càng thấy những điều kì diệu mà trước đây chỉ cho là viễn tưởng, khó tin nhưng lại có thật. Tai tôi được nghe, mắt tôi được thấy như bà Bé ở xã Minh Khai - Hoài Đức bị điên 29 năm, không biết gì, cơm ăn để dưới đất để bốc, quần áo xé tơi tả, trần truồng, gào thét đập phá, đánh con cái thâm tím mặt mũi, chỉ sau một thời gian chữa trị của Thầy Hùng, đã bình tĩnh lại, biết ăn uống sạch sẽ, biết mặc quần áo, đi lại bình thường. Rất nhiều bệnh như Tâm thần, Chậm lớn, Ung thư đại tràng, tuyến giáp v.v...cũng đều được khắc phục sau một thời gian chữa trị bằng năng lượng.
Nhiều học viên học giỏi, tiếp thu nhanh đã tham gia chữa bệnh có hiệu quả như bác Vân 82 tuổi, chị Mận, chị Thiềng, chị Mai...Còn tôi, ngày nào cũng thiền từ 4 giờ sáng, say mê luyện tập những bài thiền mới mà các Thầy phổ biến để củng cố sức khoẻ cho mình và giúp cho mọi người trong gia đình cũng như bạn bè.
Dưới góc độ tâm linh, tôi chưa hiểu mấy, song với bệnh tật hiểm nghèo mà tôi qua được đã là vô cùng sung sướng, là quá sức tưởng tượng. Ước mơ của tôi đã thành sự thật. Còn một điều tôi chưa học được nhiều đó là lòng từ bi của các Thầy, là không phân biệt giàu nghèo, bệnh tật nặng hay nhẹ. Ai có bệnh đến cũng tận tình hướng dẫn, hỗ trợ năng lượng, không quản sức lực, thời gian, lây nhiễm...Tôi xin hứa với các bạn đồng môn cũng như các Thầy là sẽ cố gắng, kiên trì học tập và rèn luyện tâm đức. Tôi ước mong một ngày gần nhất, các nhà khoa học nghiên cứu thực tế chữa bệnh bằng năng lượng không dùng thuốc đưa ra kết luận khoa học để nó trở thành một phương pháp phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Đức Phật dạy rằng: “Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ và trí tuệ.” Tôi mong muốn toàn thể học viên trong CLB chúng ta sẽ cùng nhau luyện tập thiền Lửa Tam Muội, rèn luyện tâm đức, quyết giữ được tài sản là sức khoẻ và sự minh mẫn cho mình. Hiện nay tôi được khoẻ mạnh làm việc cho gia đình và luyện tập như một người khoẻ, trẻ, không bệnh - chính là sự kiểm tra đánh giá sự rèn luyện, chịu đựng vững bền của các cơ bắp và sự minh mẫn của tinh thần. Kết quả luyện tập, chữa bệnh của CLB đã đủ để tin rằng: triển vọng chắc chắn là tốt đẹp. Sự ổn định đã có là vững chắc lâu dài. Chúng ta cố gắng tu luyện nâng cao tâm tính, thiền nhiều để quyết điều chỉnh được bệnh tật cho mình và giúp ích cho đời.
Xin tha thiết chân thành cảm ơn CLB và các Thầy. Ước mong môn học này ngày càng phát triển rộng rãi trong nhân dân.
Hà Nội 6/2009
Ngô Thị Thoa
(Bài đã được đăng trong quyển Kỷ Yếu của CLB)

CÒN GẶP NHAU

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy bèo trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.


Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thưở hãy còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương mọi nẻo đường.


Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời

Vui chơi trong ý tình tao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

Cho đẹp lòng nhau – cả mọi người.


Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu non nước tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.


Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say rượu, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

Đi tìm chân lý lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.

(Người sưu tầm – CLB)

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

Gửi con yêu dấu


Nếu một mai thấy cha già, mẹ yếu

Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân.
Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi
Hay tự cha không mặc được áo quần.

Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu
Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế bồng.
Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa
Cho con nằm nệm ấm,chăn bông.

Cũng có lúc con thường hay trách móc
Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần.
Xưa bên nôi, giờ con sắp ngủ
Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng.

Có những lúc cha già không muốn tắm
Đừng giận cha và la mắng nặng lời.
Ngay còn nhỏ con vẫn thường sợ nước
Từng van xin"đừng bắt tắm mẹ ơi!"

Những lúc cha không quen xài máy móc,
Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu.
Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ
Có khi nào cha trách móc con đâu?

Một ngày nọ khi mẹ, cha lú lẫn
Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò
Nếu không phải là niềm vui đối thoại
Xin đến gần và hãy lắng nghe cha.

Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa
Đừng ép thêm,già có lúc biếng ăn
Con cần biết lúc nào cha thấy đói
Lúc nào cha thấy mệt lúc đi nằm.

Khi già yếu phải nương nhờ gậy chống
Xin nhờ con đỡ cha lấy một tay
Hãy nhớ lại ngày con đi chập chững
Mẹ dìu con đi những bước ngày đầu.

Một ngày kia cha mẹ già chán sống
Thì con ơi đừng giận dữ làm gì!
Rồi mai này đến phiên, con sẽ hiểu
Ở tuổi này, sống nữa để làm chi?

Dù mẹ cha cũng có khi lầm lỗi
Nhưng suốt đời đã làm tốt cho con
Muốn cho con được nên người xứng đáng
Thì giờ đây con cũng chẳng nên buồn.

Con tức giận có khi còn xấu hổ
Vì mẹ cha giờ ăn đậu, ở nhờ.
Xin hãy hiểu và mong con nhớ lại
Những ngày xưa khi con tuổi ấu thơ.

Hãy giúp mẹ những bước dài mệt mỏi
Để người vui đi hết chặng đường đời.
Với tình yêu và cuộc đời phẩm giá
Vẫn yêu con như biển rộng, sông dài.

Luôn có con, trong cuộc đời
Yêu con cha có mấy lời cho con.

Bố, mẹ của con.

(Nguyên bản tiếng Anh)
Người dịch: Huy Phương

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

“Sắc Sắc – Không Không”

Hương Tuyền
Thuyền đi cô gái chẳng ngừng,
Mái chèo cô dập lên vầng trăng trong.
Trăng tan ra khắp dòng sông,
Như đàn rắn bạc vẫy vùng đua bơi.
Ngừng chèo cô lái đò ơi,
Nước trong, trăng lại sáng soi giữa dòng.
Có chi là sắc, là không.
Tan rồi lại hợp, hoại xong lại thành.


(photo: Thầy Thích Huệ Tín)


Có chi là tử, là sanh.
Tử sanh cũng bởi nghiệp mình sinh ra.
Có chi là bệnh, là già.
Có thời vẫn có, không mà vẫn không.
Vì tâm kia vốn là không.
Không sanh, không tử cũng không bệnh già.
Không thiện ác, không tránh tà.
Không hình, không tướng, không ta, không người.

Không biến chuyển, không đổi dời.
Thân kia dẫu mất, tâm thời còn nguyên.
Sắc Không thử ngẫm mà xem.
Khác chi mặt nước trăng in giữa dòng.
Đó là Sắc Sắc Không Không.



Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Ý TƯỞNG

Cuối tuần vừa rồi đi chơi cùng Câu lạc bộ. Gọi là đi chơi cũng chưa hẳn mà kết hợp đi luyện tập dã ngoại. Chuyến đi rất vui. Không khí trong veo, đồ ăn ngon và tinh khiết. Đầu óc trong veo, nhẹ nhõm, lâng lâng vì Thầy cho ngồi thiền khá nhiều. Cười rất nhiều. Hát véo von suốt trên đường lúc về.





Gặp một con người với vẻ ngoài bình dị như bao nhiêu người khác vậy mà những công việc mà chị đã làm khiến không ít người khâm phục. 
Với giọng nói khoan thai, nhẹ nhàng, từ ngữ giản dị cô đọng, trong một khoảng thời gian khá ngắn chị đã nói về những triết lý tưởng như rất cao siêu bằng những ngôn từ cực kỳ dể hiểu, đơn giản.  
Chị đã đi nhiều nơi trên thế giới, có dịp nói chuyện với rất nhiều nhân vật nổi tiếng. Mỗi ngày của chị đầy ắp công việc và những niềm vui. Chị cho đi rất nhiều và không trông đợi nhận lại điều gì. Hạnh phúc của chị là ở chỗ làm cho những người khác hạnh phúc.




Trông chị thật nhỏ bé nhưng những kế hoạch, những ước muốn của chị thì chả nhỏ bé tẹo nào. Ngoài một trung tâm dưỡng sinh cho mọi người đến luyện tập, chị đang xây dựng một ngôi chùa và làm cả một con đường với hai làn xe vào sâu trong núi. Chị chuẩn bị làm một khu chế biến thuốc nam và mời một nhà sư về bốc thuốc làm từ thiện, xưởng sản xuất thực dưỡng Oshawa của chị vẫn đang hoạt động. Chị cho trồng rau sạch để cung cấp cho mọi người. Khu dưỡng sinh của chị được nâng cấp liên tục, đẹp đẽ và nên thơ.  
Chị bảo: "Việc gì dù khó đến đâu cũng có thể thực hện được miễn là mình có quyết tâm để thực hiện nó."




Mình cũng có ước muốn sẽ hoàn thiện bộ giáo trình giảng dạy cho trường, làm một trang blog riêng cho Câu lạc bộ, giúp con một người bạn thân đã mất thực hiện được ước mơ đi du học, viết một vài quyển sách về đề tài giáo dục. Chỉ vậy thôi. Mình cũng quyết tâm ghê lắm, hy vọng sẽ thực hiện được. :))

Hồng Thu
(Bài đăng trên Facebook , ngày 29/3/2010)

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

GIÁC NGỘ

Thành tâm đến trước cửa thiền
Nén hương thắp, khói muộn phiền bay đi
Hãy quên kiêu bạc kinh kỳ

Hãy quên tất cả những gì cần quên
Học cây cỏ, học thiên nhiên
Tập tươi xanh trước vô biên mất còn
Phận người hạt cát cỏn con
Biết thương nhau chúng mình còn mãi nhau!
Hải Từ

(Hải Từ là bút danh của anh Từ Văn Hải - Hội viên Câu lạc bộ DSNL.)

LUYỆN LỬA TAM MUỘI

Đây là câu chuyện của Bà David Neel nói về phép luyện lửa Tam muội, nhiệt công, tiếng Tây Tạng gọi là tummo, Ấn Độ gọi là Kundalini, nghĩa là cuộn xoắn, hay hỏa xà, Trung Hoa gọi là luồng hỏa hầu. Những nhà tu huyền bí thuộc dòng áo vải Kargyupa của Milarepa hay đề cao huyền thuật này.
Trong số đệ tử của Milarepa có một người tên Rechung, xuất thân là một học giả xuất sắc. Vì coi trọng hình thức nên Rechung có yêu cầu Milarepa tìm một ngôi chùa nào lớn đẹp cho xứng với danh vị của ông, nhưng Milarepa cho rằng: hang động rêu phong của ông cũng không có khác gì với cung điện ngọc lưu ly. Sau đó thì Rechung rời khỏi hang động và đi giảng thuyết khắp nơi, và được nổi danh với tài hùng biện. Ông được một tiểu vương xây cho một ngôi chùa nguy nga và gả luôn công chúa cho ông. Nàng công chúa kiêu sa, bà Rechung ỷ bề gia thế nên xem thường chồng. Bà ta đốt sách, đuổi bạn bè của ông, và cấm không cho ông ra khỏi nhà để đi giảng thuyết, bắt ông phải để tâm làm việc kiếm tiền. Một ngày kia ông bị bà vác gươm ra chém một nhát bị thương nên ông bỏ chạy, được một đỗi ông nhìn xuống vết thương và thấy máu của ông đã thấm ướt hết áo, nhưng lại là một màu trắng đục (do ông luyện lửa Tam muội) khiến ông nhớ về đạo, bèn tìm đến hang động của Milarepa và ở đó tiếp tục tu hành. Về sau, ông trở thành đệ tử lớn của Milarepa và là tác giả cuốn "Cuộc đời của Milarepa.” 
Lời bình:Vào mùa đông, trên đỉnh núi Tuyết sơn, thường có các đạo sĩ Tây Tạng mình khoác chiếc áo mỏng hay để mình trần ngồi tham thiền mà không bị chết vì lạnh cóng. Đó là do họ luyện được lửa Tam Muội.Có nhiều kỹ thuật để luyện lửa Tam muội. Người luyện ngồi thẳng lưng, kiết già hay bán già, nhắm mắt, từ từ hít thở và chú tâm vào hơi thở theo những phương pháp khác nhau tùy theo trình độ, và đọc câu thần chú. Mục đích là đưa hơi thở vào 7 cái “luân xa” hay các mạch đạo nằm ở xương sống bắt đầu từ cuối xương sống và chấm dứt ở đỉnh đầu. Mỗi khi hít vô thì trí quán rời xa những thói tham sân si và khi thở ra thì quán nạp vào từ bi hỷ xả, thanh tịnh, vô ngã, vị tha. Nếu như hít thở đúng cách thì sẽ kích động các huyệt đạo, đưa đến cảm giác thoải mái dễ chịu có khi rất hưng phấn như là được "mặc áo tiên", hay "sống trong tiên cảnh".Khi luyện tập lên trình độ cao đưa được luồng hỏa hầu lên đỉnh đầu, gọi là “nhập Tam muội” thì sẽ đạt được quyền năng phi thường và đắc đạo. Môn luyện nầy cần có sự hướng dẫn của đạo sư kinh nghiệm vì nó rất nguy hiểm, sơ sảy sẽ hóa điên hay chết. Sau thời gian đầu tập hít thở thì người đệ tử được vị thầy làm lễ điểm đạo truyền pháp. Nhưng các vị thầy thường hướng dẫn đệ tử một cách mập mờ khó hiểu khiến cho đệ tử lắm lúc không biết phải làm sao.Việc thật hư của môn bí truyền nầy thật khó mà kiểm chứng vì nó được thêm thắt nhiều điều huyễn hoặc, vô lý.Bà David Neel kể rằng: Trong tông phái nầy thường có những cuộc thi về nhiệt công. Ban đêm trời lạnh căm, thí sinh ngồi tại bờ sông không mặc quần áo chờ người ta nhúng tấm mền nỉ xuống sông và đắp lên người của thí sinh. Nước trong mền không bao lâu thì đông lại thành đá. Thí sinh phải vận công chuyển nhiệt, dùng lửa Tam muội để làm khô cái chăn, chăn này khô lại đắp lên cái chăn ướt khác, cứ thế đến trời sáng. Thí sinh phải hong khô ít nhất là 3 cái chăn mới có được danh hiệu ‘Ripa’ kèm theo tên của mình. Tôi được biết có người đã làm khô tới 40 cái chăn!Những người luyện luồng hỏa hầu này không cần mặc quần áo, nhưng việc này không thành vấn đề vì họ ở nơi thâm sơn cùng cốc, nhưng khi Tây Tạng bị quân đội Anh xâm chiếm thì có nhiều đạo sĩ lõa thể bị bắt và nhốt ngục vì tội công xúc tu sĩ.Tại tu viện Samye có một trưởng lão luyện lửa Tam muội tới mức cao siêu. Tôi đến xin người chỉ cho tôi, tôi năn nỉ mãi, và còn tỏ ra là mình không tin lắm vào năng lực gia trì của bài chú hay của việc điểm đạo truyền pháp. Cuối cùng thì người cũng khẩu truyền cho tôi một bài chú ngắn và kêu tôi lên núi, tắm rửa trong giòng suối, sau đó thì đọc bài chú. Thời tiết tuy là vào mùa hè, nhưng vì ở trên núi cao tới 6000 thước nên cũng khá lạnh. Tôi nghe lời lên núi tắm rửa trong giòng nước lạnh và sau đó là tĩnh tọa chú tâm đọc bài chú.Một hồi sau thân thể tôi từ từ nóng lên và hơi ấm lan tỏa ra khắp người tôi đưa đến cảm giác rất dễ chịu; tôi đã không bị cảm vì tắm nước lạnh và ngồi ở ngoài trời suốt đêm. Đây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi về lửa Tam muội mặc dù tôi không có được điểm đạo và cũng không biết một tí gì về khí công.8 năm trôi qua. Một ngày kia tôi đang đi trên triền núi thì bị vấp ngã xuống sông, nước sông lạnh giá làm hai chân tôi tê cứng lại, tôi chỉ có thể lết lên bờ. Bộ quần áo tôi mặc trên người cũng bị đông đá. Tôi cố lết được tới vệ đường thì không nhúc nhích được nửa và tôi nghĩ nếu như tình trạng này kéo dài chừng ½ tiếng nữa chắc tôi sẽ bị chết cóng. Tôi ước phải chi mình biết nhiệt công thì tốt quá. Tôi liền cầu nguyện các Chư tổ xin hãy cứu tôi, và tôi đã nhớ lại bài chú mà đã lâu tôi không có đọc. Thế là tôi ráng hít thở và đọc bài chú, và cảm thấy thân thể tôi nóng dần lên, có một luồng hơi ấm lan đi khắp người tôi và không bao lâu thì bộ đồ mặc trên người đã được khô ráo. Tôi đã đi được trở về làng. Đây là kinh nghiệm lần thứ hai của tôi về lửa Tam muội. Thì ra các phương thức luyện tập khí công phức tạp kia chỉ là những kỹ thuật căn bản bên ngoài mà thôi, tôi đã hiểu ra chính là sức gia trì của các Chư Tổ đã giúp tôi khi tôi đọc bài chú, và bài chú mới chính là động năng quan trọng nhất của phép luyện lửa Tam Muội. 
Ý kiến:Cho đến ngày nay, các sư Tây Tạng vẫn còn ở trần lên núi tuyết biểu diễn thần thông chống lạnh, cũng như mấy vị trong môn phái thần quyền (Việtnam, TháiLan, Lào, Campuchia…) thường biểu diễn phép dao chém vào người không đứt. Những biểu diễn huyền thuật nào cũng chỉ là để con người thấy được quyền năng của Thánh thần. Nhưng so ra thì luyện phép đao chém không đứt còn có ích lợi hơn luyện phép chống lạnh, vừa khó khăn vừa nguy hiểm. Ở những xứ giá rét, người dân không cần luyện lửa Tam muội mà cũng dễ dàng chống rét bằng áo ấm, khi phải lái xe đi đâu xa vào mùa Đông thì họ biết mang theo nhiều chăn ấm, nước và đầy đủ lương thực đề phòng bão tuyết bất ngờ không thể về nhà.Bà David Neel là người có trí tuệ nên sau hai lần kinh nghiệm về “lửa Tam muội” bà đã ý thức là bà chỉ được truyền cho bài chú chứ bản thân không hề luyện qua kỹ thuật hít thở nào để khai mở luân xa, đánh thức luồng hỏa hầu gì hết. Bà chỉ biết tin tưởng và cầu nguyện với Chư Tôn nên được chư Tôn gia trì cho sức nóng và cứu bà thoát nạn. Tuy nhiên, bà David Neel chỉ ngộ ra có một chuyện là không cần phải tập luyện khí công nhưng vẫn hiểu lầm khi bà cho bài chú là quan trọng. Nếu như hiểu cao hơn thì bài chú thật ra cũng không có quan trọng gì hết, bởi vì khi được điểm đạo chỉ cầu nguyện chứ không niệm bài chú cũng đã nhận được gia trì lực của Thánh thần, người tu chỉ cần cầu đến Thánh thần là đã được Thánh thần gia hộ. Các cách tu hành như tĩnh tâm tham thiền, luyện hơi thở, quán tưởng, đọc bài thần chú đều là những hình thức bên ngoài và đều không thể mang lại sự mầu nhiệm nào. Thánh thần mới là nội dung và là điều kiện chủ yếu nhất của mọi huyền thuật, thần thông, phép lạ.Người tu chỉ cần có được sự chứng minh và độ hộ của thánh thần. Đã có biết bao nhiêu người không hề trì qua chú Đại bi hay chú nào khác mà khi gặp nạn chỉ gọi đến Quan Âm Bồ-tát, hoặc các vị thần bảo hộ, hay các Thánh thần có duyên với họ và được cứu thoát một cách mầu nhiệm.Người tu Mật giáo nếu thích và được truyền cho thần chú thì cứ niệm thần chú (thực hành công phu) nếu không thì cầu nguyện với vị Thánh, thần nào mà mình biết rõ, hay được nhân gian tin tưởng chẳng hạn như tướng Lưỡng cầu với thần Lê Văn Duyệt, sư Chimđađa cầu thần Nguyễn Trung Trực mà trong những bài của Thầy già có nói.Nếu bước vào lãnh vực siêu hình mà không biết đến nội dung (sự hộ trì của Thánh thần), chỉ chấp vào hình thức tu luyện kiểu này, kiểu khác và tu luyện những cái nguy hiểm sẽ bị tẩu hỏa nhập ma hay điên khùng mà khoa học gọi là hội chứng Kundalini. Nếu muốn luyện một năng lực thần thông nào đó vì xét thấy có ích cho cơ thể mà không nguy hiểm thì hãy luyện, chứ không nên luyện cái cực kỳ khó khăn nguy hiểm cốt để khoe tài, vì chỉ là làm chuyện hoài công vô ích. Những luyện tập về thể xác thì sẽ đưa đến những thay đổi về thể xác mà không có liên quan gì đến đạo, cho nên không thể nói là luyện cơ thể mà đắc đạo được mà là phải thực hiện được 3 giai đoạn sau đây: 
1. Tự giác – đi học và hiểu các giáo lý đạo cho thông suốt.
2. Giác tha – đi dạy đạo.
3. Giác hạnh viên mãn – dạy đạo lâu năm, kinh nghiệm nhiều.Giai đoạn thứ ba xong rồi thì sẽ đắc đạo thành Phật - Trở thành một bậc thầy dạy đạo, hưởng phước lộc của Trời.
(Sưu tầm)

TÁC DỤNG CỦA THIỀN TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT

I. DẪN NHẬP: Nền khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ thông tin hiện nay trên thế giới tiến triển vượt bực. Đời sống nhân loại được nâng cao rất nhiều. Con người có thể vượt hàng ngàn cây số chỉ trong vài giờ, có thể liên lạc với nhau dù cách một đại dương. Chỉ cần vài phút trước máy vi tính là mình đã có được các thông tin cần thiết. Không cần tốn nhiều công sức mà mọi thứ đều nhanh chóng dễ dàng…
Do điều kiện vật chất cao, nhu cầu thụ hưởng lớn, cũng như tiếp xúc quá nhiều với các loại phương tiện kỷ thuật đó, điển hình là tiếng ồn, lại phải làm việc với nhịp độ tăng tốc liên tục cho kịp với tiến độ phát triển của xã hội - không phải chỉ với người lớn mà ngay với trẻ con, cũng được giáo dục theo chiều hướng như thế - nên con người dễ rơi vào tình trạng căng thẳng, mất cân bằng. Hệ quả là mình trở nên yếu đuối, thiếu nhẫn lực, không làm chủ được bản thân, dễ gây hấn với người chung quanh.
Cuộc sống khắc nghiệt và vội vã nên đời sống gia đình bị bỏ quên. Giới trẻ lại tiếp xúc và huân tập vào tiềm thức của mình quá nhiều phim ảnh bạo động. Vì thế những việc đáng tiếc xảy ra liên tục, ngay trong môi trường học đường. Loại thuốc mang tính xoa dịu hay kích thích thần kinh được lạm dụng khá phổ biến.
Một khi tâm đã hướng ngoại, tham sân si đã làm chủ lấy tâm, thì cũng có nghĩa, PHẬT TÂM – là TRÍ TUỆ và TÌNH THƯƠNG bao la sẵn có trong mỗi người - đã bị che khuất.
TRÍ TUỆ PHẬT một khi đã bị che khuất thì con người không còn nhìn đúng bản chất của mọi hiện tượng hay sự vật trong thế giới này. Không thấy được mọi hiện tượng từ vật chất cho đến tinh thần, không gì không là nhân duyên. Một cái nhân đã gieo, đủ duyên sẽ cho ra một cái quả nhất định. Nhân thiện thì quả lành. Nhân bất thiện thì quả bất hạnh. Do không thấu được nhân gì cho ra quả gì, nên ngày nay con người giải quyết mâu thuẫn trong xã hội rất đơn giản : Sẵn sàng dứt bỏ không thương tiếc những gì mình không thích và những gì làm ảnh hưởng đến quyền lợi của riêng mình. Giết người, cướp bóc, chiến tranh ngày càng thông dụng. Ngay trong môi trường giáo dục hay Phật pháp và pháp luật, là môi trường cầm cân nảy mực cho vấn đề đạo đức xã hội, mọi tha hóa nhiễu nhương cũng xảy ra. Đạo đức ngày càng suy, đời sống tâm linh ngày một xuống dốc, thiên tai hoạn nạn thêm nhiều. Chỉ vì không biết gì về thực lý Duyên khởi đang chi phối thế giới này.
TÌNH THƯƠNG đối với muôn loài một khi đã bị hạn cuộc trong cái tôi và cái của tôi, thì con người nghĩ nhiều đến bản thân và đuổi theo những mục đích vị kỷ hơn là làm mọi thứ vì lợi ích của cộng đồng xã hội. Hầu hết trong mọi lãnh vực, con người dễ chú trọng đến lợi nhuận của bản thân mà quên đi sinh mạng của người khác. Kẻ trên tham quyền, người dưới lấn công, thản nhiên lạm dụng của công, coi thường sự cơ cực của người khác. Độc chất được sử dụng rộng rãi ngay trong môi trường ăn uống. Bê trễ trách nhiệm đối với công việc dù đó là việc cứu người v.v… Tất cả, đều do không dụng được phần Phật tâm của chính mình.
II. TÁC DỤNG CỦA THIỀN TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Thiền, chính là khai phát lại phần Phật tâm của chính mình. Phật tâm một khi được khai phát thì trí tuệ và tình thương đối với muôn loài được hiển bày. Vì khai phá lại Phật tâm của chính mình nên thiền của đạo Phật không chú tâm vào việc giữ gìn sức khoẻ hay đạt được một sự thần kỳ hảo diệu nào. THIỀN, chỉ là dừng đi mọi ham muốn hướng ngoại và những lăng xăng không cần thiết, để trở về chỗ tịch lặng trong sáng của tâm. Yếu chỉ là như thế, nhưng thiền ra sao là việc ta phải tìm hiểu, thực hành thông qua sự chỉ dạy của chư vị thiền sư. Đó là một quá trình đòi hỏi sự thực nghiệm, không thể vài dòng mà có thể lý giải được hết. Đây chỉ nói đến tác dụng của thiền khi ta ứng dụng nó vào đời sống của mình.
1. Thiền tạo ra sự bình ổn của tâm.
Ta thường để đầu óc của mình bám trụ vào sách báo, phim ảnh, mưu toan, tính toán … nói chung là lăng xăng loạn động quá nhiều nên sức khoẻ của bản thân suy giảm, bệnh tật dễ xuất hiện, con người dễ bức xúc gây hấn. Thiền là dừng đi những lăng xăng loạn động đó của tâm. Nó giúp tâm trở lại trạng thái yên định. Sự yên định này giúp ta ổn định được mọi bức xúc, làm chủ mọi suy nghĩ hành động để đời sống của mình và người được tốt đẹp. Những thành viên trong gia đình có định tâm, gia đình ấy thực sự là một gia đình yên bình. Nhiều gia đình trong xã hội có định tâm, xã hội ấy là một xã hội bình yên.
2. Thiền giúp cho công việc được hoàn thiện tốt đẹp
Một trong những việc mà một hành giả tu thiền cần phải có là chánh niệm. CHÁNH NIỆM là làm việc gì chỉ biết việc đó mà thôi. Ngày nay tai họa dễ xảy ra, một phần là do lòng tham và sự tính toán của con người, một phần là chúng ta ít để tâm vào thời điểm hiện tại. Đi xe giữa chốn thị thành nhưng hồn để tận nơi tháp cổ chùa xưa. Làm việc này mà tâm nghĩ đến việc khác. Ít ai đặt tâm trong thời điểm hiện tại. Vì thế, tai nạn dễ xảy ra, công việc không được toàn thiện. Thiền chính là mang tâm trở về với hiện tại. Ăn chỉ biết ăn. Ngủ chỉ có ngủ. Làm thứ gì chỉ tập trung vào thứ đó. Việc đó vừa mang lại định tâm, vừa giúp ta tránh được bệnh tật, vừa khiến công việc của mình được hoàn chỉnh tốt đẹp.
3. Thiền giúp con người hạn chế sự phung phí.
Phải nói, phung phí hiện nay là một trong các tệ nạn của xã hội. Chúng ta, trước đây cũng như bây giờ, dễ phung phí những gì mình có. Tiền bạc, thức ăn, thời giờ, điện nước v.v... Công việc không cho phép chúng ta quan tâm đến những việc nhỏ nhặt trong gia đình. Còn trẻ con thì không ý thức được sự tai hại của việc phung phí. Gà, chúng ăn nửa con và quăng nửa con vào thùng rác. Chúng vò chocolat thành từng cục để ném nhau. Chúng mở nước bỏ đó rồi đi. Không bao giờ tắt điện. Mặc dù nhiều nơi đang thiếu điện và nước. Người lớn thì chẳng quan tâm đến những gì không phải của mình v.v...
Trong khi, một trong những đức tính cần có của hành giả nhập thiền là cẩn trọng từng chuyện nhỏ nhặt trong những sinh hoạt đời thường. Cẩn trọng nhưng không dính mắc.
Một lần, thiền sư Nghi Sơn vào tắm, vì nước nóng quá nên sai đệ tử mang nước châm thêm. Trích Thủy pha nước xong, thuận tay hất nước thừa đi. Nghi Sơn liền quở “Nhân địa tu hành, âm đức là bậc nhất, cớ sao không biết tiếc phước? Tuy là một giọt nước, tưới cây cây cũng hoản hỉ, tưới cỏ cỏ cũng hoan hỉ, nước cũng không mất giá trị của nó, vì sao không biết tiếc vật như thế ?”.
Người ngoài đời, ít ai chú ý đến việc giữ lại một chút nước thừa cho việc tưới cây như thế. Người nào có thái độ chú tâm kỹ càng sẽ được nhìn với con mắt khắc khe khó chịu. Nhưng trong sự tu tập của các thiền viện chính thống, một chút nước thừa cũng không được phí. Ngày nay mình dễ dàng phí phạm nhiều thứ vì nó quá thừa mứa với mình. Mình không quan tâm vì mình không ý thức được sự cần thiết của nó. Trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca, thiền sư Sessan nói “Theo quan điểm hiện thời thì có vẻ khó hiểu, nhưng những điều như thế có ý nghĩa sâu xa trong sự tu tập của các thiền sinh. Không chỉ nhìn nó theo mặt công dụng hay nguy hại, có lợi hay không có lợi theo nghĩa kinh tế, mà phải thâm nhập vào tận cốt tủy để khám phá ra cái diệu dụng và mật hạnh, phải tôn kính vì ánh sáng ẩn tàng trong đó”. Cái ánh sáng ẩn tàng trong đó là thứ gì, ta sẽ hiểu khi ta hành thiền. Điều tiên quyết là thiền giúp ta ý thức được sự cần kiệm dù đó không phải là ý nghĩa đích thực mà chư vị thiền sư muốn nói đến. Song nó là sự cần thiết cho bản thân, gia đình và xã hội.
4. Thiền giúp ta yên vui với cuộc sống
Thiền đưa đến định tâm. Định tâm tạo cho hành giả sự an lạc. Bản chất của định tâm là như thế. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” vì thế một khi có định tâm, thì cái nhìn của ta cũng bị tác động bởi cái lạc của định tâm. Ta không có được cái lạc miên viễn như các thiền sư bởi tâm mình còn bị cảnh vật sai sử. Cái vui và buồn của mình là vui buồn bị lệ thuộc vào duyên. Cảnh vừa lòng thì vui. Cảnh không vừa lòng thì buồn. Song mọi hình tướng ở thế gian có gì là vĩnh viễn? Đều là pháp nhân duyên sanh diệt. Một cái nhân như thế cho ra một cái quả như thế. Chỉ là những đầu mút nhân duyên sanh diệt nối tiếp nhau. Cái vui của mình trở thành pháp sanh diệt.
Thiền không những giúp ta có được sự an lạc của thân tâm, nó còn giúp ta chấp nhận và bình thản với những được mất ở thế gian. Bởi Phật tâm hiện diện trong tất cả mọi thứ mà không hề dính mắc với thứ nào. Dụng của Phật tâm là như thế. Mọi sợ hãi đau thương được đẩy lùi. “Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng. Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi”. Đã có sự an lạc của tự tâm, có thể làm chủ lấy bản thân thì những tệ nạn đáng tiếc như tự tử, ma túy, thuốc lắc v.v... sẽ không còn chỗ đứng trong xã hội.
5. Thiền, giúp ta nhìn đúng mọi sự như chính nó.
a. Con người thường nhìn thế giới chung quanh qua lăng kính tình cảm và tư duy của chính mình. Thiền giúp ta cất đi cặp kính màu muôn thuở đó. Con người xảy ra tương tàn gấu ó lẫn nhau không phải chỉ ngoài xã hội mà ngay cả trong gia đình một phần vì “Kẻ mất búa nhìn đâu cũng thấy kẻ trộm búa”. Người nói đông, qua tâm thức của mình đều thành tây. Đó là một trong những nhân duyên đưa đến sự tranh tàn trong gia đình và ngoài xã hội. Thiền giúp ta giải quyết được khổ nạn đó.
b. Nhìn đúng sự vật như chính nó cũng chính là nhìn ra được thế giới chung quanh ta không lìa ta mà có. Một thế giới tranh tàn đau thương hay hạnh phúc ấm no tùy thuộc vào những nghiệp nhân mà người ở thế giới đó đã tạo ra trong quá khứ. Y báo không lìa chánh báo. Ai tạo nhân, đủ duyên người ấy sẽ lãnh quả. Không tạo nhân, dù duyên có đầy bao nhiêu cũng không có quả để lãnh. Vì thế khủng bố tràn lan nhưng không phải ai cũng bị tai họa vì khủng bố, không phải có sóng thần thì ai cũng chết vì sóng thần. Ngược lại, y học tiến triển rất mực, nhưng không phải vì thế mà mọi bệnh nhân đều được cứu chữa lành lặn. Nền khoa học hiện đại vẫn có những mặt trái của nó (điển hình như bom mguyên tử, chất độc màu da cam v.v...). Nghĩa là, vẫn có người chết vì sự tiến bộ của nền khoa học kỷ thuật hiện đại. Tất cả đều có nhân duyên.
Nhận ra được điều đó, con người sẽ hạn chế bớt những trách cứ đổ thừa cũng như hạn chế đi những tư tưởng và hành động tàn bạo. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được một hoàn cảnh tốt đẹp khi thân khẩu ý của ta hoàn toàn bất thiện. Cho nên, có lập đàn tràng tế độ nhân sinh, không phải để cầu cho khủng bố thiên tai hay hoạn nạn hết hoành hành mà chính là cầu cho mọi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn về thực lý Nhân Quả đang chi phối thế gian này, cầu cho chúng ta phát tâm hướng thiện. Tâm bớt bạo tàn tham dục thì khủng bố thiên tai sẽ không còn. Khủng bố dẹp rồi mà tâm con người không hết tham dục, sẽ có loại nạn tai khác xảy ra cho tương thích với những gì mà nhân loại đã gieo. Bởi hoàn cảnh chung quanh không hề lìa tâm mà có. Y báo nào lìa chánh báo?
Một lần, Tô Đông Pha đi dạo cũng Phật Ấn. Khi thấy tượng Quán Thế Âm cầm chuỗi niệm Phật, Tô Đông Pha đã hỏi:
- Quán Thế Âm là người để ta lễ bái, vì sao trên tay còn cầm chuỗi niệm Phật?
Thiền sư Phật Ấn trả lời: Đó phải hỏi chính ông.
Tô Đông Pha không hiểu: Sao con biết niệm ai?
Phật Ấn trả lời : Niệm Quán Thế Âm chứ ai.
Tô Đông Pha hỏi lại : Vì sao lại phải niệm mình?
Phật Ấn đơn giản : Cầu người không bằng cầu mình.
Nghĩa là, không có gì thay đổi một khi tâm con người còn đầy tham dục và sân hận. Mọi thứ chỉ thay đổi khi suy nghĩ và hành động của mình thay đổi.
c. Nhìn đúng sự vật như chính nó cũng chính là nhận ra tính cách vô thường ảo mộng của thế gian. Con người và vạn pháp ở thế gian không có gì tồn tại vĩnh viễn như thiền sư Vạn Hạnh đã nói “Thân như bóng chớp có rồi không. Thịnh suy như cỏ hạt sương đông”. Danh vọng tiền tài, hạnh phúc, được, mất v.v… chỉ như hạt sương sớm, hào nhoáng long lanh nhưng mong manh dễ vỡ ... Tuy thế, những gì đã gây tạo ở quá khứ, một khi đủ duyên, sẽ cho ta một cái quả không tránh khỏi. Cái quả ấy như hạt sương mai, nhưng với tâm thức nhìn đâu cũng thấy thực như mình, thì khổ đau, nạn tai, mất mát không phải là thứ dễ chịu. Đó là cái đáng tội của con người. Nhận ra được tính huyễn mộng mà không huyễn mộng này của thế gian, mọi tranh tàn sẽ chấm dứt.
6. Thiền giúp phát triển tình thương với muôn loài.
Thiền của Phật giáo giúp phá bỏ tham sân si, hiển bày Phật tính trong mỗi chúng sanh. Phật tính một khi đã hiển lộ thì tình thương đối với muôn loài sẽ hiện diện. Đó là dụng của Phật tâm. Ranh giới giữa bạn và thù không trở thành nặng nề đến nỗi phải tàn hủy lẫn nhau mới vừa lòng. Cũng không thể vì những lợi ích của riêng mình mà xâm phạm tàn hại đến người khác. Các tệ nạn như tham nhũng, buôn gian bán lận, giết người, cướp của, tạt ác xít v.v… sẽ bị đẩy lùi.
Chính nhờ loại tình thương này, nên dù nhận ra được thực chất mộng ảo của thế gian, chư vị Bồ tát vẫn trải dài sanh tử với những hạnh nguyện vô cùng vô tận của mình. Hạnh nguyện của chư vị được thể hiện qua 32 lời nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm : Hiện thân Phật, thân Tỳ kheo, thân Phạm vương, thân cư sĩ v.v... Cái gọi là xả thân vì lợi ích của người hầu làm vơi đi nỗi khổ cho người, chính là lý tưởng của chư vị. Chỉ vì, những thứ chư vị thấy như huyễn thì với người đời, mọi thứ vẫn như thực. Khổ đau là như thực. Hạnh phúc là như thực. Đã như thực, thì việc gieo nhân gặt quả như thực là điều không thể tránh khỏi. Giúp, chính là giúp họ nhận ra được nhân nào cho ra quả nào, để đời sống đỡ tai ương, cuộc sống đỡ hoạn nạn.
III. KẾT LUẬN :
Cuộc sống không phải khi nào cũng bình yên và hoàn toàn theo ý mình muốn. Có những thứ hình như vượt khỏi tầm tay và công sức của con người. Tai nạn, bệnh tật, thiên tai, chết chóc luôn rình rập. Khoa học tiến bộ đến đâu, vẫn có kẻ hở cho những thứ đó xuất hiện. Người nghèo có cái lo của người nghèo. Người giàu có cái lo của người giàu. Vì thế dù đời sống nhân loại văn minh đến đâu, tôn giáo vẫn có chỗ đứng nhất định của nó trong xã hội.
Mục đích chung của tôn giáo là dạy con người có cách sống sao cho phù hợp với chân lý hầu mang lại hạnh phúc và ấm no cho đời sống nhân loại. Cùng một mục đích như thế nhưng trong hiện thực, ta thấy tôn chỉ giáo lý của mỗi nơi mỗi khác, khác cả trong từng tông phái của một tôn giáo, thấy tôn giáo cứ như là biệt lập với xã hội. Thậm chí có tôn giáo chỉ thấy mang lại sự mê tín chết chóc hơn là làm lợi ích cho ai. Cái sai khác về tôn chỉ giáo lý có thể dựa vào tánh dục và căn cơ của người đời để hiểu. Vì tánh dục và căn cơ của người đời khác nhau nên giáo pháp lập ra có khác. Còn nói về mặt lợi hay hại mà một tôn giáo mang lại cho cá nhân, gia đình và xã hội thì phải nói đến sự vận dụng giáo pháp của người đó vào đời sống của mình. Nó lệ thuộc vào trình độ nhận thức của từng giáo phái, của từng thành phần, đẳng cấp, con người và cuối cùng là mục đích của chính người đang sử dụng nó. Vì thế tôn giáo trở thành đa dạng phức tạp, có mặt tích cực mà cũng có mặt hạn chế.
Song dù là tôn giáo nào, một khi đã xuất hiện ở thế gian thì đều phải chịu sự chi phối của lý Nhân Duyên. Phật pháp cũng như thế. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên đầy đủ thì pháp mới tựu thành”. Dù đầy đủ giá trị bao nhiêu, nếu không có cái nhân là người ứng dụng và ứng dụng đúng Phật pháp thì cái gọi là “giá trị” ấy cũng không thành hình. Cho nên, Phật giáo nếu đúng là một tôn giáo như Einstein đã nói “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt khỏi một đấng thiêng liêng, tránh hết mọi giáo điều và thần học. Vì bao trùm cả thiên nhiên lẫn tâm linh, tôn giáo này phải được đặt nền tảng trên một ý niệm đạo giáo phát sinh từ những thực nghiệm của mọi sự vật thiên nhiên và tâm linh như là một sự hợp nhất đầy ý nghĩa. Đạo Phật đáp ứng được điều đó”, thì không có nghĩa là nó có thể giải quyết ổn thỏa được mọi khủng hoảng, tai ương, tội ác của nhân loại một khi nhân loại quay lưng với nó, hoặc đến với nó chỉ với tính cách tham khảo nghiên cứu rồi lớn tiếng ca tụng đức Phật, mà không hề ứng dụng những gì Phật đã nói trong giáo pháp của ngài. Phải có người ứng dụng giáo pháp của ngài một cách đúng đắn thì mọi khủng hoảng bế tắt mới được giải quyết. Duyên Phật pháp đầy ra đó mà không có cái nhân là người ứng dụng, thì đầy đủ lực dụng thần thông như Phật cũng đành bó tay, nói là hàng nối pháp của ngài. Tai ương vẫn là tai ương. Hoạn nạn vẫn là hoạn nạn. Phật pháp vẫn là Phật pháp. Lặng lẽ chênh vênh giữa cõi đời ô trọc. Thế thôi!
Thiền cũng không ra ngoài qui luật đó.
(Sưu tầm)

LỬA TAM MUỘI (TUMO)

Đây là một trong sáu pháp du già của Naropa. Hãy thử tưởng tượng giữa mùa đông giá rét, khoảng âm mười độ, ngồi trong một động đá cao vào ngàn thước so với mặt biển, chỉ mặc đơn sơ một cái áo mỏng, vì họ biết phương pháp luyện lửa tam muội.
Lửa Tam muội nghĩa là một ngọn lửa huyền bí, hay một năng lực bên trong, có nhiều trình độ khác nhau. Người Tây Tạng nghiên cứu phương pháp này rất thấu đáo, biết rõ tính chất, công dụng và hiệu quả của nó.
Đại khái, người ta dùng hô hấp kích động các bí huyệt trong cơ thể, để lúc nào cũng cảm thấy ấm áp như được khoác một bộ áo dày, mà người Tây Tạng gọi là "mặc áo tiên". Ngoài ra, còn phải biết cách nhập định, để cảm thấy thân tâm thoải mái, an lạc, dễ chịu mà họ gọi là "sống trong tiên cảnh". Cao hơn nữa, hành giả hướng dẫn lửa đó theo thần mạch lên đỉnh đầu, để phát huy các quyền năng đặc biệt, mà họ gọi là "Nhập Tam muội".
Cũng như khinh công, luyện lửa tam muội là một phương pháp bí truyền, phải có thầy chỉ dẫn, chứ không thể học theo sách được. Vị thầy phải đã luyện thành công lửa Tam muội, để biết rõ các nguy hiểm trên đường tập luyện, vì một sai lầm có thể đưa đến điên loạn hay tử vong. Hành giả phải có một thân thể cường tráng, mới có thể khắc phục được những khó khăn vật chất trong bước đầu.
Cũng như mọi phương pháp bí truyền, người ta thường thêu dệt nhiều điều huyền hoặc, khó kiểm chứng. Tuy nhiên, đằng sau những điều khó tin này, vẫn ẩn tàng một cái gì đó cần gạn lọc để tìm ra tinh hoa ở bên trong.
Nói đến lửa tam muội, người ta liên tưởng ngay đến môn phái Kargyutpa và Milarepa, một vị tổ đã luyện đến mức thành công tối thượng. Milarepa có rất nhiều đệ tử, trong đó có một người tên là Rechung. Rechung được thầy truyền dạy lửa tam muội ngay sau khi nhập môn. Tuy nhiên, vốn là một học giả, quen sống trong môi trường từ chương sách vở, nên ông vẫn còn chấp ngã, chấp pháp, chuộng hình tướng bên ngoài. Có lần ông hỏi Milarepa, đã nổi tiếng như thế sao không tìm một ngôi chùa thật to mà ở cho xứng đáng, sống chi trong hang động hẻo lánh. Milarepa trả lời đối với ông thì một cung điện hay một hang đá như nhau, nhưng Rechung không đồng ý. Một lần khác, ông đề nghị thầy ra chốn thành thị thuyết pháp độ sinh, nhưng Milarepa trả lời đó là việc của người khác chứ không phải việc của ông. Rechung cảm thấy buồn, vì vẫn nhớ tới thế giới bên ngoài với các buổi tranh luận về giáo lý, những buổi đăng đàn thuyết pháp, những tràng pháo tay tán thưởng, những y phục sang trọng của các Trưởng lão, những yến tiệc linh đình. Cuối cùng, Rechung rời bỏ núi rừng, bất chấp lời khuyên của Milarepa: "Chưa độ được mình thì không thể độ được người".
Rechung đến Lhassa thuyết pháp và được nhiệt liệt tán thưởng. Ông có tài hùng biện, sức hấp dẫn quần chúng, nên chẳng bao lâu được coi là tháng tăng. Ông đi khắp Tây Tạng thuyết pháp, tranh luận và đánh bại các học giả uyên bác nhất. Danh tiếng của ông nổi như cồn, nhiều bậc quý tộc mời ông đến thuyết pháp.
Một tiểu vương đãi ông như thượng khách, xây cho ông một ngôi chùa lớn, và gả con gái duy nhất cho ông (Sự kiện này xảy ra trước sự chấn hưng Phật giáo của Tsong Khapa, bấy giờ các Lạt Ma được lập gia đình). Bà vợ vừa hung dữ vừa thô tục, bà ỷ thế giàu sang mà đàn áp ông luôn, đốt sách vở của ông, đánh đuổi bạn bè của ông, cấm ông đi thuyết pháp, bắt ông mưu lợi vật chất. Tuy mặc y phục Trưởng Lão lộng lẫy, sống trong chùa to lớn, được mọi người ca tụng, nhưng ông không hạnh phúc. Đến một ngày kia, bà vợ cầm gươm chém ông sau một cuộc cãi vã. Rechung ôm vết thương bỏ chạy, nhưng thay vì máu, ông lại thấy một dòng nước trắng đục chảy ra ướt cả áo. Đó là nhờ ông luyện lửa Tam muội, máu trong người đã biến thành tinh chất. Ông lập tức từ bỏ tất cả, tìm về chốn cũ chăm chỉ tu hành, sau trở thành một đệ tử lớn của Milarepa.
Theo Kinh điển Tây Tạng, có nhiều cách luyện lửa tam muội. Mỗi phương pháp lại có nhiều trình độ từ thấp đến cao, phần lớn bắt đầu từ luyện thở, rồi tới kiểm soát tư tưởng.
Thông thường, môn sinh ngồi cho thật vững vàng, thoải mái. Cách ngồi phổ biến là kiết già hoặc bán già. Tuy nhiên, các thầy nhận thấy cách ngồi bán già không được quân bình, hơi ấm dễ bị thoát ra ngoài, cho nên chỉ cho môn sinh ngồi kiết già, vì nó duy trì được tư thế quân bình và ổn định nhất.
Sau khi tập ngồi thuần thục, chân tay hết nhức mỏi thì bắt đầu tập thở cho thật đều, thật sâu trước khi hít thở theo nghi thức. Như vậy, môn sinh ngồi thế kiết già bắt chéo hai chân, bàn tay đặt lên đầu gối, ngón cái, ngón trỏ và ngón út thẳng ra, ngón giữa và ngón áp út thu vào lòng bàn tay. Thoạt đầu, họ thở cho thông hai lỗ mũi, sau đó tập trung tư tưởng vào hơi thở.Khi thở ra, họ quán đang xả bỏ các tính xấu như tham lam, ích kỷ, ngạo mạn, sân hận và si mê. Khi hít vào, họ quán đang thu vào những tính tốt như từ, bi, hỷ, xả, thanh tịnh, vô ngã, lợi tha... Tiếp theo, họ hít vào, dồn khí xuống bụng, nín thở trong một thời gian ngắn, trước khi từ từ thở ra. Cứ tập như thế, đến khi cơ thể hoàn toàn buông lỏng, tâm trí dứt hết các nỗi lo lắng, ưu phiền, hoàn toàn thoải mái tự tại. Giai đoạn này rất quan trọng, các thầy dựa trên công phu hành trì mà quyết định thu nhận học trò hay không.
Sau đây là một trắc nghiệm. Lạt Ma Kyanga luyện thuần thục khí công. Ai cũng tin ông được điểm đạo truyền pháp, nhưng vị trưởng Lão chuyên về lửa tam muội lại từ chối. Đa số các thầy không nói rõ lý do từ chối, khiến học trò phải hoang mang. Lạt Ma Kyanga nhập thất thêm một thời gian, đến khi để một tờ giấy trước lỗ mũi, mà tờ giấy không lay động. Bấy giờ, ông đến xin truyền pháp. Vị Trưởng Lão cho ông ngồi thiền trọn ngày trong một căn phòng. Trước khi bắt đầu, Lạt Ma Kyanga yêu cầu nhắc lại điều kiện thử thách, và vị Trưởng Lão xác nhận chỉ cần ngồi trong phòng đủ một ngày là được. Khi ông sắp bước vào phòng, vị Trưởng Lão quăng ba con rắn hổ mang vào đó. Lạt Ma Kyanga thản nhiên bước vào, không hề sợ hãi, và toạ thiền suốt ngày. Hôm sau, ông lại bị từ chối, vị Trưởng lão giải thích: "Làm sao một người như ngươi có thể đi xa hơn nữa được! Có rắn độc trong phòng mà không đuổi ra, cứ ngu si đâm đầu vào đó nhập định, thì công phu dù có cao siêu đi nữa cũng không có lợi ích chi cả. Ngươi chỉ chú trọng điều khí chứ không để ý tới điều tâm, người luyện khí công giỏi, nhưng chẳng quan tâm tới việc trừ khử vọng niệm, dứt tuyệt tham sân si, tu hành như thế thì được lợi ích gì? Cho nên ngươi không xứng đáng học giáo pháp thượng thừa lửa Tam muội".
Lạt Ma Kyanga mới vỡ lẽ rằng ba con rắn đó là tượng trưng cho tham, sân, si. Cuộc thử thách chấm dứt, ông không vượt qua được.
Nếu vượt qua thử thách, được chấp nhận cho làm lễ điểm đạo truyền pháp, hành giả sẽ bỏ bộ áo dày, chỉ khoác một tấm vải mỏng (Repa). Từ đó, họ không ngồi gần lửa, tìm đến nơi hoang vu, thanh vắng, có độ cao trên bốn ngàn thước để hít thở không khí trong lành. Bí kíp ghi rõ "không được tập luyện trong nhà cửa, xóm làng, vì không khí ở đó bị ô nhiễm củi lửa, có những rung động không tốt, ngoại cảnh làm xáo trộn tâm trí của hành giả". Hành giả sẽ sống cô đơn ở nơi hoang vu, tập luyện theo phương pháp chỉ dạy.
Công phu tu luyện gồm có ba phần:
- Sơ khởi
- Cơ bản
- Ứng dụng
Phần sơ khởi có năm bài tập
- Quán thân trống không
- Quán hệ thần kinh trống không
- Quán vòng bảo vệ
- Quán thần mạch
- Quán các luân xa
Phần cơ bản có ba bài tập:
- Sản sinh lửa Tam muội bằng Khí công và tham thiền
- Kinh nghiệm về lửa Tam muội
- Lửa Tam muội siêu việt
Phần ứng dụng có hai bài tập
- Hưởng lợi ích của lửa Tam muội bằng tư thế, hơi thở và quán tưởng
- Hưởng lợi ích của chân phúc
Thỉnh thoảng thầy ghé qua thăm, hướng dẫn thêm.
Việc luyện tập theo thời khoá nhất định. Hành giả khởi công vào lúc trời vừa sáng cho đến xế trưa. Khoác một áo vải mỏng, ngồi trên một tấm thảm hay ván gỗ, nhưng ít lâu sau, họ phải ngồi trên mặt đất hoặc trên băng giá.
Phương pháp tập luyện khác nhau tùy môn phái. Điểm giống nhau là quán tưởng các chủng tự. Phần lớn quán giữa rốn có bông sen bằng vàng, chính giữa có mặt trời chói lọi, toả ra các tia sáng hình chữ RAM ( ). Trên chữ RAM có chữ MA, tượng trưng cho Bồ Tát Dorje Naldjorma. Sau đó quán mình hoà nhập vào các hình ảnh đó.
Chung tự không phải là chữ viết, mà là rung động của âm thanh huyền bí có năng lực đặc biệt. Thí dụ chữ Ram là lửa, nếu phát âm đúng thì âm thanh này phát sinh ra lửa.
Sau khi hợp nhất với Bồ Tát Naldjorma, hành giả quán tưởng chữ A ở rốn và chữ Ha trên đỉnh đầu. Bây giờ, một quả cầu lửa to bằng nắm tay sẽ sáng rực ở rốn, mỗi hơi thở sẽ như ống bễ quạt cho ngọn lửa này cháy to hơn, mỗi lần dồn khí xuống ngọn rốn sẽ kích thích quả cầu này toả nhiệt mạnh mẽ.
Hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra đều nương theo một câu chú để giữ ngọn lửa đó không tắt. Nhờ trước đây đã luyện thành thục cách quán tưởng xả bỏ tham sân si khi thở ra, và thu từ bi hỉ xả khi hít vào nên tâm được thanh tịnh. Nếu đốt cháy giai đoạn, cẩu thả luyện khí mà chưa điều ngự được tâm, thì vọng niệm nảy sinh, luồng hơi nóng sẽ chạy loạn xạ vào các kinh mạch, là hành giả có thể điên loạn và tử vong.
Nếu tâm không còn vọng động, hành giả có thể dùng tư tưởng hướng dẫn luồng hơi nóng đi thẳng vào các thần mạch (uma). Người Tây Tạng có những đồ hình thần mạch, vận chuyển khí lực tâm linh, khác với các kinh mạch vận chuyển khí huyết thông thường. Hành giả quán tưởng như sau:
1 - Thần mạch Uma như sợi chỉ;
2 - Uma lớn dần bằng ngón tay;
3 - Uma to lên bằng cánh tay;
4 - Uma choán trọn thân mình, toàn thân trở thành cái ống lửa;
5 - Thân của hành giả hoàn toàn biến mất, hoà tan vào biển lửa vĩ đại bao phủ cả thế giới;
6 - Biển lửa mênh mông đó nhỏ lại dần;
7 - Toàn thân bao bọc bằng các ống lửa;
8 - Ống lửa bằng cánh tay;
9 - Ống lửa bằng ngón tay;
10 - Hơi nóng tan dần, không còn lửa, tất cả là hư vô vắng lặng, tất cả chỉ là không (Sunyata)
Truyền thống môn phái của những người áo vải (Repa) có đặt ra một cuộc thi như sau: vào một đêm thật lạnh, các môn đồ tụ tập ở bờ sông. Họ ngồi xếp bằng, không mặc quần áo. Những người khác nhúng các tấm chắn nỉ xuống nước lạnh rồi đắp lên mình họ. Gió lạnh khiến nước đóng băng ngay, tấm chăn trở thành lạnh cóng. Người luyện lửa Tam muội phải làm sao cho tấm chăn đó khô ráo, ấm áp. Rồi lại nhúng chăn xuống nước, đắp lên mình, vận nhiệt cho khô đi, cho đến sáng. Người nào làm khô nhiều tấm chăn nhất được coi như thắng cuộc. Thực tế, có người làm khô trên 40 tấm chăn trong một đêm. Ít nhất phải làm khô 3 tấm mới được sử dụng từ "Repa" trong danh hiệu.
Đối với môn sinh mới, lúc mới tập thì cơ thể ấm áp, sau đó lại lạnh. Khi đã thuần thục, nhiệt độ bên ngoài cơ thể càng lạnh thì cơ thể tự động gia tăng sức nóng lên. Có người luyện lửa Tam muội thành công, thì không mặc quần áo nữa, cứ để loã thể. Khi quân đội Anh xâm chiếm Tây Tạng, các tu sĩ loã thể đó bị đưa ra xét xử về tội công xúc tu sĩ và bị giam.
Người Âu Mỹ cũng công nhận việc hô hấp làm điều hoà máu, khiến cơ thể ấm lên, và tập trung tư tưởng tự kỷ ám thị tạo một cảm giác ấm áp cho cơ thể. Nhưng họ khó tin vào năng lực gia trì thần chú. Đây là một sự kiện huyền bí, không thể giải thích, chỉ có người trong cuộc mới hiểu.
Lửa Tam muội vốn xuất phát từ Hatha Yoga, nên người Ấn Độ cũng biết cách luyện. Cách đây không lâu, một nhà Yogi Ấn Độ đã đến phi trường Mạc Tư Khoa với chiếc áo mỏng vào một ngày mùa đông, làm những người tiếp đón hết sức ngạc nhiên.
Ngoài sức chịu lạnh, người Ấn còn có khả năng chịu nóng nữa. Họ có thể ngồi cạnh bốn đống lửa vào lúc giữa trưa hè, hoặc giẫm chân lên than cháy đỏ trong những lễ hội.
Lửa tam muội trong Khí công là tổng hợp 3 ngọn lửa: Âm hoả sinh từ Hội âm, Dương hoả sinh từ Trường cường (chân hoả) và Địa hoả thì lấy từ sâu dưới lòng đất. Còn lửa tam muội của hệ 12 kinh mạch Trung Quốc bắt nguồn từ nội tạng.
Hệ nadi Ấn Độ bắt nguồn từ luân xa. Trung Quốc dùng hệ 12 kinh mạch luyện công cơ bản, nên họ lấy nguồn khí âm dương ngũ hành từ nội tạng của con người. Lửa tam muội là vấn đề của luân xa - là các cánh cửa mở ra các cõi giới khác. Chứ không phải là vấn đề của nội tạng nữa.
Nguồn lửa tam muội yoga Tây Tạng từ luân xa Manipura, là cánh cửa liên hệ với hoả đại trong tự nhiên, mang bản chất dương hoả. Tam muội là đại định, hoặc tam là 3: tham , sân si, trong đại định thì không có 3. Đây là môn luyện tâm linh. Ngọn lửa này là linh hoả.
Còn nguồn lửa tam muội trong tĩnh công ý thức HVT từ luân xa Muladhara (tam muội ở đây gồm : thái âm, thiếu âm, thiếu dương) là cửa liên hệ địa đại, mang bản chất âm hoả. Ngọn lửa này chỉ có khí công chứ không có thiền định. Đây là môn luyện dưỡng sinh. Ngọn lửa này dùng để điều hoà nhiệt dương hoặc thanh dương cho căn vượng dương. Ngọn lửa này là thanh hoả.
Luân xa có 10 cánh, ở tâm là hình tam giác màu đỏ hướng xuống dưới, tương ứng với HOẢ đại trong tự nhiên. LX này nằm ở trên rốn, ngang với vị trí tỳ (lá lách), ở hệ thống thần kinh sau dạ dày (Solar Plexus). LX này có tên khác là Nabhi Chakra.
Như vậy, lại thêm một khám phá nữa: Kundalini đi qua LX 3 thì hành giả vượt qua được rào cản của Hoả đại. Và đây chính là nguồn gốc của lửa tam muội (Tummo) trong Yoga Tây tạng. Giải thích vì sao các Yogi Tây Tạng có thể chịu được cái lạnh giá khắc nghiệt của xứ sở này.
Goswami đã chứng minh rằng: thực ra LX Sahasrara nằm ở trên cao, cách đỉnh đầu 1 khoảng cách; chứ ko phải ở đỉnh đầu.
Ở ngay vị trí đỉnh đầu, phía trên 2 tai thì có 1 LX gọi là LX Nirvana (Niết Bàn), nó trông như chiếc vương miện đội trên đầu. Các quan điểm phổ biến cho rằng đây là LX Sahasrara nhưng thực ra vị trí vương miện này chưa phải là LX Sahasrara thực sự (LX Sahasrara có hình 1000 cánh hoa sen còn LX Nirvana chỉ có hình 100 cánh hoa sen)
Nằm trên LX Nirvana là LX Guru (Minh sư, Chân sư). LX này cũng nằm cách đỉnh đầu một đoạn nhưng nó nằm dưới LX Sahasrara.
(Sưu tầm)

NÓI VỀ MỘT PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH KHÔNG DÙNG THUỐC

I. CON NGƯỜI VÀ BỆNH TẬT
Trước hết xin được phép nói đôi điều về con người và bệnh tật. Chúng ta biết quy luật sống của con người là “sinh – lão – bệnh – tử”, song quỹ thời gian sống của con người lại tùy thuộc ở mỗi người. Con người sinh ra đã là bệnh tật, bệnh tật làm cho con người thăng tiến và phát triển. Sự thăng tiến phát triển ấy lại là nguồn gốc bệnh tật. Ta có thể nêu một trong nhiều ví dụ như: khoa học – kỹ thuật ngày nay phát triển như vũ bão nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của con người về vật chất và tinh thần; song nó lại làm cho chúng ta bị mất cân bằng sinh thái, môi trường sống của con người ngày càng bị ô nhiễm nặng nề do hóa chất độc hại, chất thải công nghiệp… Khí hậu trái đất ngày một nóng lên. Đây chính lại là nguồn gốc bệnh tật. Để chống lại bệnh tật, con người đã nghiên cứu sản xuất ra các loại vắc xin để phòng bệnh, thuốc chữa bệnh đông – tây y, các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc như xoa bóp, bấm huyệt, diện chẩn, thiền v.v…
Ông Osho, người Ấn Độ, viết một cuốn sách rất hay nói về từ thuốc tới thiền – cách thiền hỗ trợ cho mạnh khỏe thể chất và tâm lý. Ông nói: “Đừng trị bệnh, hãy trị bệnh nhân.” Vì bệnh tật không gì khác ngoài cách sống mà bệnh nhân đang sống.
Theo y học cổ truyền, bệnh tật của con người được quy về 3 nguyên nhân chính.
1. Bệnh do trời (ngoại nhân) tức là do lục khí: Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa.
2. Bệnh do người (nội nhân): Vui mừng quá hại Tâm; Tức giận quá hại Can; Buồn quá hại Phế; Kinh sợ quá hại Thận; Lo nghĩ quá hại Tỳ. Không những thế mà các cơ quan nội tạng trong cơ thể còn có quan hệ biểu, lý chặt chẽ với nhau.
3. Bệnh do đất (bất nội, ngoại nhân): Bệnh do lao động, luyện tập, ăn uống – sinh hoạt, do môi trường sống – trùng thú v.v… Song nguyên nhân bao trùm vẫn là cách sống của con người – không làm chủ được “sinh – lão – bệnh – tử” của mình.
II. PHƯƠNG PHÁP TRỊ BỆNH
Chúng ta biết, muốn trị bệnh trước hết phải tìm được nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh sau đó mới lập phác đồ điều trị. Trong thực tế, y học hiện đại, cùng một phác đồ điều trị cho cùng một căn bệnh ở hai người bệnh khác nhau, nhưng người này khỏi, người kia không khỏi. Người được chữa khỏi là do bệnh ở bên ngoài, còn người không được chữa khỏi lại là bệnh nằm sâu bên trong; cho nên sâu bên dưới bệnh nhân mới là gốc rễ. Chúng ta biết thuốc chặn bệnh trong con người rất bề ngoài. Còn thiền hiểu thấu bệnh tật con người sâu bên trong, vì con người là cả thân thể và linh hồn. cho nên ông Osho cho rằng khoa học về thuốc không trở nên hoàn chỉnh nếu thiếu thiền và ngược lại. Ông cũng cho rằng thân thể và linh hồn là hai đầu của cùng một thực thể. Bệnh có thể bắt đầu từ một trong hai đầu ấy. Ông nêu ra: “Trong thực tế người ta đã chứng minh bất kì điều gì xảy ra trong thân thể, rung động của nó cũng được cảm nhận thấy trong linh hồn.” Đó là lý do cùng một căn bệnh ở hai người, cùng điều trị với một phác đồ nhưng người này thì khỏi mà người kia thì không khỏi. Ông kết luận: “Thiền từ bên trong, thuốc ở bên ngoài có thể làm cho y học trở thành một môn khoa học hoàn chỉnh.” Chính vì vậy mà ở Ấn Độ người ta đã đưa thiền vào trường học và bệnh viện.
Ta có thể nói: Bệnh như một cái cây, thuốc như một con dao sắc chặt cây, song gốc cây này sẽ mọc ra nhiều ngọn khác nhưng nó có tác dụng làm chậm lại sự phát triển của cây bệnh; còn thiền là cái thuổng đào tận gốc rễ cây bệnh. Chính vì thế nhiều bệnh y học hiện đại chỉ giải quyết chung sống hoặc bó tay, nhưng thiền lại có thể giải quyết được.
III. THIỀN LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP PHÒNG BỆNH, TỰ ĐIỀU CHỈNH BỆNH TẬT TRONG CƠ THỂ.
A. Theo định nghĩa của Phật giáo:
Thiền là điều phục tâm. Bởi vì chúng ta sống trong xã hội người thường tâm bị ô nhiễm nặng nề, bao nhiêu ham muốn, buồn vui, tức giận, hận thù, so đo tính toán, tranh giành ẩu đả v.v… và đây cũng chính là tác nhân gây bệnh. Vì vậy, thiền là điều phục tâm, đưa tâm trí con người trở về với nguyên lai, hòa đồng vào “Chân – Thiện – Nhẫn” thức là hòa đồng vào quy luật bản chất của vũ trụ.
B. Theo một định nghĩa khác của khoa học:
Thiền là một phương pháp đưa những hoạt động của cơ vân, cơ trơn đạt đến mức tối đa hay tối thiểu.
* Đạt đến tối đa là mức độ sinh thiền.
* Đạt đến mức độ tối thiểu là mức độ thành thiền.
* Sự hòa hợp giữa cơ vân và cơ trơn là chân thiền.
Thiền được chia làm 3 loại:
1. Thiền động:
- Trong ngoài cùng động, nó kích thích hệ thần kinh của cơ vân, cơ trơn sinh
ra đối kháng. Phương pháp này để chữa bệnh trầm cảm, lãnh cảm, suy nhược thần kinh, huyết áp thấp.
Chống chỉ định: bệnh tim, huyết áp cao, hưng phấn và bệnh cấp tính.
- Trong động ngoài tĩnh: dùng chữa bệnh.
- Trong tĩnh ngoài động: dùng cho vận động viên.
2. Thiền tĩnh: là trong ngoài cùng tĩnh, ngồi yên lặng toàn thân để tiếp nhận dòng điện chữa bệnh của Thượng đế. Đây chính là phương pháp chữa bệnh của Bruno-Groëning người Đức.
3. Thiền bấm ấn: là ngồi thiền tĩnh tâm và bấm ấn các đốt ngón tay theo ngũ hành cùng để chữa bệnh.
* Thiền là một phương pháp thu khí, một loại chất liệu vô hình trong vũ trụ vào cơ thể để điều chỉnh bệnh tật. Khí nói ở đây không liên quan gì đến không khí ta đang thở. Qua tu luyện các chuyển động của chất năng lượng trong cơ thể con người sẽ trở nên hoạt động làm thay đổi trạng thái vật lý của thân thể đạt đến kết quả trị bệnh và kéo dài sự sống khỏe mạnh. Như vậy không khí không có tác dụng trị bệnh. Một người luyện tập mang trong họ một số khả năng - họ phát ra một chuỗi năng lượng cao cấp thể hiện dưới dạng ánh sáng mờ với các hại vi tử rất mịn và đậm đặc. Đấy là công và chỉ khi đó mới có tác dụng chữa bệnh cho mình hoặc cho người.
Có một câu nói: “Phật Quang phổ chiếu, lễ nghĩa toàn minh”. Có nghĩa là: người tu luyện theo chính pháp sẽ mang trong người một năng lượng sinh học to lớn. Bất kỳ nơi nào họ đi qua đều có thể điều chỉnh sự bất thường trở lại bình thường.
Theo Nhà Phật thì có 84.000 pháp môn thiền khác nhau. Có pháp môn quá trình tu luyện chỉ để một luân xa nơi bụng dưới gọi là luân xa công. Vai trò của nó luôn giữ được cung bản chất của vũ trụ, nó là mô hình thu nhỏ của vũ trụ. Người luyện theo luân xa pháp có thể phát triển công lực một cách nhanh chóng. Khi luân xa pháp phát triển nó tồn tại dưới dạng một LINH THỂ. Nó luôn luôn quay tự động 24/24h trong ngày. Người tu luyện luôn được thu hút năng lượng từ vũ trụ bao la vào cơ thể và biến nó thành công lực trong bản thể. Đấy là kết quả PHÁP LUYỆN NGƯỜI TU (Pháp luyện nhân). Vì vậy luân xa rất quý mà trước đây các thầy dạy cho rằng nó không thể mua được bằng bất kỳ số tiền lớn nào. Thầy chỉ truyền dạy cho người nào có tâm tu theo chánh pháp. Luân xa cực kỳ quý giá, bây giờ nó đã được phổ truyền rộng rãi trong công chúng và biến giảm nó cho bớt mạnh mẽ đi nhưng nó vẫn vô cùng quý giá. Đối với người tu luyện khi đã được mở luân xa, họ đã đi được một nửa quãng đường tu luyện, những gì còn lại là họ phải nâng cao tâm tính và có một cấp khá cao đang chờ họ.
Như vậy một vấn đề đặt ra đối với người tu luyện là phải tu luyện tâm tính. Tất cả những người tu luyện luân xa công phải đặt sự tu luyện tâm tính lên hàng đầu và tin chắc rằng tâm tính là chìa khóa để phát triển công lực. Đấy là nguyên lý vàng về tu luyện theo luân xa công. Công lực ở một người không phải chủ yếu là phát triển qua tu luyện mà là phải phát triển qua tu luyện tâm tính. Sự tu luyện tâm tính nói thì dễ hơn là thực hành. Người tu luyện phải buông bỏ rất nhiều, phải nâng cao giác ngộ, phải kiên nhẫn chịu đựng kể cả những đau khổ và phải chấp nhận những gì mà không thể chấp nhận được.
*Lại nói về tâm tính:
Tâm tính nó bao gồm nhiều hơn đức, gồm nhiều khía cạnh khác nhau kể cả đức. Nếu chỉ dùng đức để biểu hiện tâm tính thì chưa đủ mà nó còn bao gồm cách thức giải quyết giữa được và mất.
- Được là đạt được đặc điểm của vũ trụ “chân - thiện - nhẫn”, đạt được sức khỏe, minh mẫn sáng suốt. Đức chỉ là thể hiện sự hài hòa giữa người tu và đặc tính của vũ trụ.
- Mất là sự từ bỏ những ý nghĩ bệnh hoạn, tính tham lam, ganh tỵ, tư lợi, ham muốn, ẩu đả, so đo tính toán… Bỏ được những điểm này là người giác ngộ rồi.
- Sự tu luyện tâm tính cũng phải làm từ từ và tiến lên từng bước một. Phải thành tâm, kiên quyết, kiên nhẫn thì mới đạt được.
Nói tóm lại, mọi cái đều cân bằng đó là chân lý của vũ trụ. Mất một phần thì cũng chỉ được một phần tương ứng.
Qua nghiên cứu nhiều tài liệu viết về thiền cho ta thấy các pháp môn đều đi vào luyện theo đặc tính bản chất của vũ trụ đó là “chân - thiện - nhẫn”. Tuy nhiên quá trình tu luyện có những trường phái lại chú tâm vào một trong 3 bản chất ấy. Trường phái ta nói ở đây là của Đức Thầy Tổ Dasira Narada tu luyện cả “Chân- thiện - nhẫn” cùng lúc để cuối cùng hòa tan vào vũ trụ.
Khi bước vào tập luyện theo pháp môn này được các Thầy hoặc các hướng dẫn viên mở cho nhiều cặp luân xa cùng một lúc nên tính hiệu quả của nó rất nhanh. Có thể nói đây là một trong những pháp môn rèn luyện để phòng bệnh hoặc tự điều chỉnh bệnh tật trong cơ thể mà không cần dùng đến thuốc rất hiệu quả. Khi luyện theo nó chỉ cần người bệnh tĩnh tâm, gạt bỏ mọi suy tư lo nghĩ, buồn bực, chán nản, bệnh tật. Phải tin ở chính mình, vượt lên trên mọi khó khăn thử thách, kể cả thời gian và không gian, điều đó giúp cho nhanh khỏi bệnh. Hay nói một cách khác là phải tu tâm tính thật tốt, kiên nhẫn bền bỉ luyện tập thì điều không thể sẽ trở thành có thể.
Phạm Mạnh Thường