Có một nơi mọi người đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi, gặp nhau mỗi tuần một lần, hàng tháng cùng nhau đi dã ngoại để luyện tập, để cười vui, để chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Đó là chính là Câu lạc bộ Dưỡng sinh Năng lượng thuộc chi hội y học Esperanto - Hà Nội của chúng tôi. "Vui, khỏe, sống có ích cho đời" là mục tiêu của Câu lạc bộ chúng tôi.
Đề nghị ghi rõ nguồn http://luatamuoi.com/ khi sao chép những bài viết chia sẻ từ trang Câu lạc bộ DSNL.
Mọi liên hệ xin gửi về một trong 3 địa chỉ ở mục LIÊN HỆ. Xin trân trọng cảm ơn."

Hiển thị các bài đăng có nhãn phòng và chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phòng và chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Ngồi thiền chữa bệnh thân và tâm

Ngồi thiền 

Luyện thân có luyện Tĩnh và Động, Thiền Tĩnh là ngồi yên, Thiền Động có thể Kinh Hành hoặc có một bài quyền thường tập, giúp khí huyết lưu thông, nhất là những vùng khí lạnh cần phải tập động công cho cơ thể ấm áp. Bài viết này chú trọng đến Thiền Tĩnh nặng về luyện Thân Ý còn Thiền Động nặng về luyện Thân Tướng.
Ngồi thiền chữa bệnh thân và tâm
Sau khi đã có đời sống thay đổi như thế, bắt đầu ngồi yên tịnh cho thân được yên. 

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Hỏi đáp về đọc tượng số chữa bệnh

Chữa bệnh bằng "Thần dược số", liệu pháp đọc "Tượng số bát quái" được giới thiệu trên tạp chí "Trung hoa khí công" số 4 năm 1993 đã gây tiếng vang lớn trong quảng đại quần chúng, phương pháp này đã được hai bác sỹ họ Lý là Lý Kiện Dân và Lý Ngọc Sơn biên tập lại và đặt tên là Chữa bệnh theo Chu Dịch

Thường xuyên, liên tục, đều đặn hằng ngày đọc (niệm) những chuỗi số thể hiện bệnh trạng cũng là một cách dưỡng sinh chữa bệnh, làm não bộ hoạt động tích cực,  kích thích phát lộ các khả năng tiềm ẩn của cơ thể con người như: tự tổ chức, tự thích nghi, tự điều chỉnh và tự tái tạo...
Đó chính là công phu luyện Ý hồi phục sức khỏe, dưới đây là phần trả lời hỏi đáp về đọc tượng số tự chữa bệnh theo chu dịch của các tác giả. 
Liệu pháp tượng sô bát quái bản thân cũng là một loại khí công tại sao không gọi tên là công pháp mà lai gọi là liêu pháp?
Một là liệu pháp tượng số bát quái lấy hạt nhân là học thuyết bát quái, lý luận đông y lấy tượng số bát quái là liệu pháp khí công, nó không giống như khí công nói chung, gồm một sô động tác phải cần đến một số yêu cầu nào đó về mặt điều thân, điều tâm, điều ý; nó là "tự nhiên", "tự do", "tự vi"; 
Hai là liệu pháp này tùy cho từng người để lập số biện chứng thi trị lấy trị bệnh là chính do đó là liệu pháp phù hợp với thực tê hơn.
Khi niệm tượng số tại sao không lệ thuộc vào thời gian địa điểm, tư thê, phương vi, mà có thê niệm tùy ý, đi ngồi hoặc nằm.
Vì tượng số bát quái là hình ảnh thu nhỏ của thiên đạo, vật đạo, nhân đạo, nó đều bao hàm các tin tức vũ trụ phong phú. là môi giới của "thiên nhân hợp nhất". Cho nên bản thân mỗi một mã tượng số đều mang theo những tin tức tương ứng, trong quá trình niệm có thê điều chỉnh tự nhiên trường bát quái của cơ thể làm cho cộng hưởng đồng bộ với trường bát quái vũ trụ. vì thế không ràng buộc (tên thời gian, địa điếm, tư thế,phướng vị và có thể niệm tùy lúc. tùy nơi. trong khi đi, ngồi, nằm của sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt, như có người bệnh đã theo một phương vị nhất định, niệm với thòi gian nhất định để tăng cường hiệu ứng của tin tức thòi gian, không gian.
 Khi lập tượng sô qua niệm không thích hợp,phải điều chỉnh nhóm sô khác, thì thời gian giãn cách bao lâu là thích hơp.
Khi niệm nhóm tượng số, nếu xuất hiện những hiện tượng không thích hợp thây từ đầu, dạ dày và tim, cũng có thể do lập số sai, hoặc do bản thân người bệnh vì khí huyết không lưu thông có kinh lạc bị tắc nghẽn, vẫn có thể thử niệm, hay thử niệm nhóm sau đó. Nhưng khi người bệnh có xuất,hiện cảm ứng rõ ràng, thì hãy tạm nghỉ; đợi sau khi được hoãn giải lại niệm thử.
 Khi niêm sô thì niêm như thê nào?
Nói chung khi niệm thì niệm không thành lời hoặc phối hợp với ý niệm. Tốc độ niệm nên chỉ trung bình, không nhanh cũng không chậm, nhanh quá  dễ bị nóng, chậm quá dễ bị lạnh. Giữa các nguyên nên dừng một chút.
 Ý nghĩa của sô "0" ở trước và sau tượng sô là thê nào?
Trường hợp chung số 0 đặt sau tượng số, ngoài công hiệu làm mạnh các tín hiệu tượng số và thông kinh lạc ra, còn có hiệu quả điều hòa. Nếu gặp các bệnh cấp tính hoặc các bệnh ngoan cô",thì trước và sau tượng số đều có thể thêm số 0 có tác dụng cường hóa. Mặt khác do âm dương có lúc thịnh lúc suy khác nhau, và số" 0 trước và sau tượng sô" cũng không giống nhau. Trường hợp chung, khi thiên về âm hư hoặc dương thịnh, thì sô" không được đặt ở phía trước sô”. Ngược lại, được đặt tại phía sau số. Khi lập số trên lâm sàng còn phải căn cứ vào tính của âm dương sinh ra do số 0 là chẵn hay lẻ (số 0 chẵn, là âm, 0 lẻ là dương cần phải được vận dụng linh hoạt).
 Trong quá trình niệm liệu pháp tượng số, đa sô người bệnh thuộc loại rõ ràng, có rất ít người bệnh thuộc loại ngầm, hiệu quả của nó ra sao?
Trường hợp chung, đa số bệnh nhân trong quá trình niệm số, có thể xuất hiện đầu nhẹ  nhõm, sáng mắt. thần khí thoải mái, mát nóng, hành khí v.v... với những cảm giác dễ chịu khác nhau. Loại cảm ứng này, nói chung trong quá trình niệm chỉ cần mày phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện nên thuộc loại rõ ràng. Còn có rất ít trường hợp phải niệm tới nửa giờ hoặc dài hơn nữa mới xuất hiện cảm ứng thì thuộc loại ngầm.Người loại bệnh rõ ràng, nói chung chữa tương đôi nhanh, còn người loại bệnh ngầm thì tương đối chậm, tuy nhiên hiệu quả chữa trị vẫn là ổn định.
 Liệu pháp tượng sô có thê phôi hợp với các liêu pháp khác hoặc khí công?
Thông thường có thể phôi hợp các phương pháp chữa trị khác nhau như châm, ấn huyệt v.v... Khi dùng liệu pháp này thì không nên phôi hợp với các loại khí công khác, vì có một số khí công có ảnh hưởng tới liệu pháp tượng số.
 Trong quá trình điều trị bằng liệu pháp tượng số, không những chữa khỏi bệnh cần chữa ngay mà thường thường lai chữa được cả các bênh khác kèm theo nữa, vây tai sao?
 Chỉnh thể quan, bình hoành quan, vận động quan của vũ trụ là nguyên lý mà liệu pháp tượng số làm căn cứ. Cho nên bất cứ lập nhóm số nào hợp lý đểu tác dụng trực tiếp vào cục bộ, ngoài ra nó còn tiến hành điều chỉnh chỉnh thể, để trường bát quái của người vận động chấn với trường của bát quái vũ trụ, dễ điều hòa khí cân bằng âm đương làm cho toàn thân được điều chỉnh.
 Tai sao niêm sô, thường làm cho người ta hết mệt mỏi và tinh lực tăng cường
Khi niệm số, do trực tiếp điều tiết trường bát quái cơ thể, làm kinh lạc cơ thế khai thông, cộng chấn với trường bát quái thiên thể, càng lợi cho việc tiếp nhận tin tức của trường bát quái vũ trụ. bổ khí của cơ thể, làm tinh lực tăng trưởng, không thấy mệt mỏi.
 Trong khi lập tượng sô nên phôi hợp với ngũ hành là tốt nhất phải không?
Đúng mà lại không đúng. Do vì thịnh suy âm dương của người bệnh khác nhau, có bệnh nhân tiếp thu được tượng số có phối hợp với thuộc tính ngũ hành, qua niệm thấy dễ chịu, nhẹ nhõm là thuộc bài niệm tốt nhất và hợp lý. Nhưng cũng có người bệnh không thế tiếp thu lập số có kết hợp thuộc tính ngũ hành. Đối với người bệnh nàv thì lập số theo ngũ hành là bài niệm không hợp lý.Tóm lại: Khi lập số sẽ phải lập biện chứng khác nhau cho từng người tức là chìa nào mỏ khóa nấy, đó mới là bài niệm tốt nhất.: cho dù là kết hợp hay không với thuộc tính ngũ hành, đều phải cộng chấn đồng bộ của trường bát quái trong và ngoài cơ thế, luôn luôn tương thông với nhau.
 Tai sao lâp tương sô đều theo thứ tư dưỡng sinh của ngũ hành?
Quan hệ giữa tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái là quan hệ thể và dụng, liệu pháp tượng số chính là vận dụng quan hệ thể dụng này. Hậu thiên bát quái lây thứ tự tương sinh ngũ hành, đem vạn sự vạn vật của thiên hạ phân loại theo ngũ hành nạp vào trong bát quái, lấy thứ tự thời gian làm thành một vòng tròn để biểu thị quy luật vận động biến hóa của vạn vật (bao gồm cả người). Cách lập tượng số của nó lấy thứ tự tương sinh ngũ hành, tức là thuận theo quv luật vận động của hậu thiên bát quái, thuận theo tượng thiên hợp nhất.
 Trong lập tượng sô chi dùng đến 8 quái số của tiên thiên bát quái, tại sao lại chữa được những chứng bệnh thiên biến vạn hóa.
Bát quái đại biểu cho 8 tính chất cơ bản của sự vật, nó có thê đại biểu cho tất cả mọi thứ, sự vật mà nó đại biểu là vô hạn cho nên các bệnh tật của con người dù thiên biến vạn hóa đều có thể căn cứ vào tượng để quy loại vào trong bát quái. Liệu pháp tượng sô”, tuy chỉ có 8 sô' của tiên thiên, nhưng có thể lập tượng số biến hóa đa đoan để điều trị bệnh.
                                                 Hai bát quái đồ theo Wikipedia
Ưu điểm của liệu pháp tượng sô là gì ?
Ưu điềm của nó là không làm tổn thương khí cho người điều trị, tiện lợi dễ dàng, phương pháp giản đơn, hiệu quả kỳ lạ, đạo lý thâm sâu, được sử dụng hàng ngày trong lúc đi, ngồi hay nằm, rất đơn giản, cách chữa bệnh nâng cao sức khỏe đúng đạo lý thiên nhân hợp nhất. Cho nên người niệm sô" mà kiên trì thường xuyên thì đều thu được hiệu quả tốt. Chỉ cần có đủ trí nhớ, tinh thần bình thường thì dù nam nữ lão ấu đều có thể thu lợi ích khi niệm.
 Tai sao lập tượng sô chỉ dùng sô từ 1 đến 8 mà không dùng 9?
Liệu pháp tượng sô bát quái là dùng số của tiên thiên bát quái tức là 1, 2, 3 ,4, 5, 6, 7, 8. Những con sô" khác không thấy ghi trong tiên thiên bát quái cho nên chỉ dùng 8 số.
 Khi niệm tượng số, nói chung bao nhiêu thời gian thì xuất hiện cảm ứng
Niệm tượng số, nói chung chỉ mấy phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện các loại cảm ứng khác nhau. Thậm chí có rất ít người bệnh, chỉ nhìn thoáng con số hoặc nghĩ thoáng một cái là  có cảm ứng; cũng có một sô rất ít phải từ nửa ngày đến mười mấy ngày mới có cảm ứng. Cái gọi là cảm ứng nói chung là cảm ứng thoải mái như đầu nhẹ nhàng, sáng mắt, thần khí trong sáng, mát. nóng, hành khí v.v... Ngược lại cảm thấy khó chịu, xuất hiện ở đầu, dạ dày, tim v.v...
 Khi niệm tượng sô có cần cấm kỵ gì về ăn uống không?
Khi niệm  tượng số không có một cấm kỵ nào về ăn uống cũng như thòi gian trước và sau ăn uống, tất cả đều thuận theo tự nhiên.
 Có một sô người bênh khi niêm sô trên lâm sàng, dễ gây nên khó chịu, tại sao?
 Trường hợp này không tránh khỏi có nhầm lẫn trong lập sô". Nói chung trường hợp này và bệnh nhân này, một là do tính khí có nhiều suy tư, cũng có thế là do bệnh tình phức tạp, thời gian mắc bệnh quá dài nên gây ra kinh lạc không thông, bị tắc nghẽn rõ ràng, nên khi niệm sô" dễ gây ra khó chịu. Nêu gặp những trường hợp này có thê dùng những biện pháp sau: tức là chọn một nhóm số" 0 thích hợp mỗi
lần, cho niệm vài lần rồi thôi, nếu qua vài lần kinh lạc có thể có chấn động và có thế tiếp thu bài niệm.
Trong quá trình niệm tượng số, có một sô rất nhỏ người xuất hiện hiện tượng tương tự như "ngây ngất" thì phải đề phòng ra sao?
Quan sát quá trình người bệnh niệm số, thứ nhất trước tiên phải hảo người bệnh về những cảm ứng trong khi niệm (tức là thoải mái hoặc là khó chịu) thì báo ngay cho bác sĩ biết. Hai là bản thân người theo dõi cũng phải quan sát chú ý, hỏi han người bệnh: nói chung niệm trong 1 đến 2 phút hoặc thời gian ngắn hơn nữa là có thể hỏi cảm ứng của người bệnh. Trên lâm sàng có thể chia thành 3 loại. Loại cực nhạy, loại nhạy và loại chậm; trong đó nhạy chiếm đa số. Khi niệm nếu thấy thoải mái thì cứ tiếp tục niệm; nếu niệm thấy khó chịu thì chuyển xuống số khác. Nếu như có sự phôi hợp giữa thầy thuốc và bệnh nhân thì sẽ không có hiện tượng "ngây ngất", đợi cho bệnh nhân nằm yên ít phút là có thể trở lại bình thường.Với những  người bệnh nặng thì có thể ấn vào nhân trung, thập tuyền, hợp cốc, bách hội, lao cung v.v... hoặc có thể châm cứu, nhưng trong' lâm sàng ít gặp.
 Trong quá trình thực hiện chữa bệnh thì cần phải bao nhiêu thời gian đê đi điều chỉnh lần khác
 Trong quá trình niệm số", nếu có phản ứng tốt thì có thể giữ nguyên sô' đó, nhưng đa sô" trường hợp căn cứ vào thay đổi của bệnh tình cần phải điều chỉnh sô’ mới để đạt hiệu quả và tốt' độ nhanh nhất. Nhất là đôi với bệnh mạn tính.
 Khi niệm sổ, khoảng bao nhiêu thời gian thì có kết quả
Với người nhạy bén thường thưòng là thu được nhanh, nhưng để củng cô bệnh phải căn cứ vào bệnh tình là cấp tính hoặc mạn tính mà cho niệm thời gian dài hay ngắn khác nhau. Đợi sau khi khỏi bệnh tiếp tục cho niệm không chỉ để củng cố chữa bệnh mà còn đê nâng cao sức khỏe.
 Nên có nhiều loại bệnh thì có thê đồng thời niêm nhiều nhóm sô được không?
Không thể, dù là có nhiều bệnh, nhưng trên lâm sàng chỉ có một khái quát là "âm chứng" và "dương chứng", tức là phải lấy tổng cương của âm dương để điều chỉnh, tức là tùy theo nặng nhẹ mà điều chỉnh chỉnh thể, phải tôn trọng tuần hoàn "pháp vu âm dương, hợp vu sô" thuật”. Cho nên mỗi lần chỉ niệm một nhóm sổ”, tức được điều chỉnh có thứ tự từ từ, nếu niệm nhiều nhóm sô' một lúc dễ có phản ứng không tốt. Như ở Bắc Kinh một độc giả họ Ngô... bị bệnh da đã chọn dùng một nhóm số trong luận văn của người viết để niệm tượng sô" chữa bệnh đã thu được hiệu quả rõ ràng. Nhưng lại muôn chữa trị thêm bệnh khác lại chọn 2 nhóm sô", mỗi ngàv niệm 3 nhóm sô" nên nó đã ảnh hướng đến nhau. Nên nhớ rằng mỗi nhóm số hợp lý. dù là tượng sổ nhiều hay ít đều phải tuân theo sinh khắc chế hóa của ngũ hành, phải lập theo "thiên nhân hợp nhất"; cho nên khi chữa khỏi bệnh chính nào đó thì những bệnh kèm theo khác cũng được chữa khỏi.
Liệu pháp tượng sô bát quái có gỉ khác vói số tự công của sinh mệnh con người?
Đây là hai loại công pháp và liệu pháp hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt của nó gồm 3 điểm sau: một là chữ sô" dùng khác nhau, sô" công của sinh mệnh con người là dùng 10 sô" (gồm cả 9). Hai là: hàm ý của chữ sô" cũng khác nhau, sô" của chúng tôi đúng là tượng số bát quái là "tỷ loại thủ tượng", "dĩ tượng định sổ”. 
Còn “sô" tự công" là dùng mã sô' nhị tiến chế phản ánh hình thức xung mạch sinh vật của cơ thể, sau đó đem mã sô" nhị tiến vị phiên dịch thành chữ số thập tiến vị. Như "1" cân bằng âm dương; "2" - bình hành ba động;"3" - bình Ổn; , “4" - đại hình ba động; "5" - chậm lại, ẩm ướt, v.v...
Ba là số tự công cần phải phối hợp nhiều loại thủ ấn v.v... Còn liệu pháp tượng số thì không dùng bất cứ động tác quy định nào. Nhưng cần nói rõ liệu pháp tượng sô" bát quái tuyệt đối không bác hỏ số tự công sinh mệnh cụ  thể.
Chữa bênh theo liêu pháp này rất đơn giản,dó là ưu điểm đặc biệt của nó, nhưng nắm vững và vận dụng liêu pháp này thì không đơn giản, vây có con đường nào đê nhập môn hay không?
Chỉ cần có kiến thức cơ bản có liên quan đến bát quái và đông y, nắm vững liệu pháp này không khó. Có một con đường nhập môn là trong 101 bài thí dụ các bệnh điển hình mà tôi đã giới thiệu. Nó cũng là 101 bài thuốc kinh nghiệm (nghiệm phương), người bệnh có thể tự xem xét bệnh của mình, nếu tương tự cũng có thê áp dụng chữa được có hiệu quả nhất định. Nhưng là một người làm công tác y vụ, cần phải từ nguyên lý cơ bản nắm chắc các kiến thức cơ sở và kết hợp với thực tế của lâm sàng, cũng phải mất nhiều công phu, cũng giống nội dung của câu nói "bất chi dịch, bất túc dĩ ngôn thái y".
Liệu pháp của bà có phải bệnh của gì cũng chữa được không
Trên trần thế này không có, cũng không có thê có loại liệu pháp vạn năng, không có một loại khí công nào hoặc liệu pháp nào có thể bao quát được bách bệnh. Trong thực tiễn lâm sàng chứng tỏ, liệu pháp này có hiệu quả với trên 70 loại bệnh, trong đó có hiệu quả chữa nhanh đến tôi cũng phải sợ.

Bài viết liên quan

Đọc tượng số chữa bệnh

Ứng dụng lâm sàng đọc tượng số chữa bệnh 


                                                           Học viên lớp DSNL15-                                                                         Cơ sở 2 TDH

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Đọc tượng số chữa bệnh

Trong thời gian luyện tập và sinh hoạt tại Câu lạc bộ dưỡng sinh năng lượng, các học viên được phát tài liệu tham khảo có tên là đọc (niệm) Tượng số bát quái, một biện pháp y học bổ xung tự điều trị trong phòng và chữa những bệnh thường gặp trong cuộc sống. Đây là một phương pháp chữa bệnh đơn giản, thực hành rất hiệu quả trong dưỡng sinh, trị bệnh mà bất cứ ai ở bất cứ đâu cũng có thể áp dụng được. 
Bài viết này không đi sâu vào cơ sở lý luận của phương pháp: chu dịch, học thuyết bát quái, học thuyết ngũ hành, học thuyết Âm Dương , học thuyết tạng tượng của Đông Y với Tượng số bát quái… mà chỉ giới thiệu sơ qua về thông tin và ứng dụng của phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc này.

Phương pháp điều trị tượng số bát quái

Đây là một phương pháp tuân thủ các nguyên lý tượng số dịch tượng, đồng thời lấy lý luận tằng tượng của Đông y làm cơ sở kết hợp với ý niệm khí công, đã sáng tạo ra một phương pháp điều trị tượng số bát quái. Đó là cách điều trị bằng khí công loại mới, thông qua người bệnh đọc niệm một nhóm tượng số bát quái được sắp xếp theo y dịch đế đạt tới mục đích chữa khỏi bệnh, nó được kết hợp hữu cơ giữa Chu dịch, Đông y và Khí công dưới sự chỉ đạo của tư tương triết học biện chứng duy vật của Chu dịch, lấy học thuyết bát quái làm hạt nhân, lấy lý luận tàng tượng của đông y làm cơ sở, lấy tượng số bát quái làm môi giới truyền đạt tin tức, đồng thời lại tiếp thu được phương pháp điều trị đơn giản, thực dụng mà kỳ diệu của nhiều thành quả nghiên cứu khoa học hiện đại.
Tượng số bát quái là hình ảnh thu nhỏ của thiên đạo, vật đạo, nhân đạo, nó đều bao hàm các tin tức vũ trụ phong phú, là môi giới của "thiên nhân hợp nhất". Cho nên bản thân mỗi một mã tượng số đều mang theo những tin tức tương ứng, trong quá trình niệm có thê điều chỉnh tự nhiên trường bát quái cua cơ thể làm cho cộng hưởng đồng bộ với trường bát quái vũ trụ, bởi vậy không ràng buộc (tên thời gian, địa điếm, tư thế, phướng vị và có thể niệm tùy lúc, tùy nơi: đi, đứng, ngồi, nằm trong sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt, như có người bệnh đã theo một phương vị nhất định, niệm với thời gian nhất định để tăng cường hiệu ứng của tin tức thời gian, không gian. 
Tượng số bát quái, gồm 8 quẻ, tượng và số.
Tám quẻ là càn (=), đoài .== ), ly(==), chấn (=-=), tốn (==), khảm (-_=) , cấn( —), khôn (= = ) 

Tượng của bát quái tương ứng có số của bát quái là Thiên,Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, Địa, tức là số thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 của tiên thiên bát quái.  
"Bát quái thành liệt, tượng tại kỳ trung” tức 8 quẻ xếp thành hàng, tượng nằm trong nó. Có nghĩa là nói bát quái chia nhau đại biểu & loại tượng vật nói trên, cổ nhân nói: "Phục Hy vẽ bát quái bắt đầu từ số" tức là các số tự nhiên nói trên. Như vậy tượng và số là gắn với nhau không thể tách ra được, nó là một thực thể. được gọi "tượng dĩ định số"", "số” dĩ trưng tượng".
Dịch học cho rằng bát quái là mô thức cơ bản của kết cấu vũ trụ, tượng của bát quái là tượng trưng vạn sự vạn vật (kể cả phủ tạng cơ thế), số của bát quái là dịch số của vạn sự, vạn vật của vù trụ. Tượng số là kết quả tạo hóa tự nhiên, là căn nguyên về vận động của vũ trụ. Chính thể quan hợp nhất giữa trời và người của "Chu dịch". Thế giới vật chất là một thể tương quan với nhau, thông liền với nhau, mà bát quái là mô thức kết cấu cơ bản của nó, lớn đến thiên thẻ vũ trụ, nhỏ đến phủ tạng, tế bào của cơ thể người đều như vậy cả. Lý luận "Tự nhiên toàn tức luận" hiện đại cho rằng, toàn vũ trụ từ cách nhìn vĩ mô hay vi mô đều có luật toàn tức luận. Lý luận "luật toàn tức sinh vật" hiện đại cho rằng bất cứ một phần nhỏ nào của sinh vật đều là "hình ảnh thu nhỏ” của chính thể, giữa chính thê và cục bộ đều có liên hệ tính chất toàn tức. Như vậy Bát quái là hình ảnh thu nhỏ toàn tức của cả vũ trụ, còn cơ thê con người cũng là hình ảnh thư nhỏ toàn tức bát quái của cơ thể con người, giữa chúng đều có liên hệ về tính chất toàn tức, là một chính thể thông suốt với nhau. Khi người bệnh đọc nhẩm một nhóm số bát quái, sẽ hình thành sóng tin tức với năng lượng nào đó, những sóng này sẽ được vận chuyển từ đại não đến mọi phương vị của phủ tạng. Khi những sóng tin tức này làm thức tỉnh, kích thích phát động những tin tức bát quái tương ứng trong phủ tạng và tế bào hội tụ thành sóng tin tức với năng lượng nào đó. sô hoàn thành hai hạng mục: một là điều chinh chức năng chính thể. hai là xung kích vào các "ố’ bệnh" cục bộ. khiến các tổ chức kết cấu bái quái của ổ bệnh từ vô trật tự biến sang có trật tự. khiến trường cơ thể cộng hưởng đồng bộ với các vũ trụ, từ đó hợp nhất được trời với người, thông các kinh lạc trong cơ thể, cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết, đạt tới mục đích chữa bệnh làm khỏe người.
Từ "Chu dịch" và các văn kiện cổ tìm được, lấy Càn là đầu, đại tràng; Đoài là mặt, tim; Chấn là chân, Can; Tôn là đùi,mật; Khảm là tai, thận; Cấn là tay, dạ dày; Khôn là bụng, tỳ. Đã tìm ra các cách ghi dùng trong các đơn thuốc trong "Thiên địa chi cốt” còn phát hiện ra cách dùng số hay của "số" trong các đơn thuốc của các danh y cổ xưa. Như trong đơn thuốc có ghi "Đại táo 6 quả" mà không cần là to, nhỏ, chẳng cần đến trọng lượng mà chi là "sáu” điều đó phải chăng là ngẫu nhiên chăng? Ở đây không chỉ là 6 quả có tác dụng dược tính của nó, mà số "6" cũng lại là mảnh cắt về tin tức, điều đó nói lên rằng các người xưa đã dùng tượng số kết hợp với thuốc trên lâm sàng. 

Đặc điểm của đọc tượng số chữa bệnh

Trên thực tiễn lâm sàng các đặc điểm của điều trị tượng số là: "tự nhiên", "tự do", "tự vi" và "mỗi chìa mở một khóa", điều đó sẽ tạo ra các điều kiện có lợi mang tính phổ cập cao, còn chìa nào mở khóa nấy, đó chính là tư tưỏng minh triết, là tinh thần cầu thực của nền y học cổ truyền,chỉ cần có hiệu quả điều trị tốt, được quảng đại người bệnh tiếp thu.
Liệu pháp tượng số bát quái có tính ứng dụng và hiệu quả thực tế cao.
“Tự nhiên" là chỉ khi người bệnh đọc nhẩm tượng số, tâm trạng tự nhiên, hình thái tự nhiên, không cần có tác động đặc biệt ở bên ngoài. Cũng không cần tư thế đặc biệt nào, cũng chẳng cần ý niệm đặc biệt nào.
“Tự do" là chỉ khi người bệnh đọc nhẩm tượng số có thể tiến hành tự nhiên, tùy lúc. tùy nơi, cũng không cần chọn thời gian, địa điểm, chiều hướng, lúc trà dư tửu hậu. sớm hoặc tốì, đi, đứng, ngồi, nằm, đánh răng, súc miệng, xem ti-vi, tán gẫu... đều được.
"Tự vi" là chỉ yêu cầu người bệnh tự mình lo liệu không cần phải có nhiều người một lúc. Không cần có sự ám thị và chỉ dẫn của thầy dạy khí công, không cần khí công sư phát ngoại khí.
“Mỗi chìa mở một khóa" là chỉ điều trị cho mỗi người một khác, mỗi bệnh một khác, không phải một nhóm tượng số là dùng cho tất cả mọi người, mà là mỗi bệnh thì đều có nhóm tượng số khác nhau, tức là mỗi người, mỗi bệnh sẽ có một "số" riêng. Nó không phải là hàng vạn người tập một loại công, hàng nghìn người niệm một số, mà là chìa nào mở khóa nấy.

Đọc tượng số bát quái chữa bệnh

Khi ta đọc (niệm) tượng số chữa bệnh thì không phát ra thành tiếng hoặc phối hợp với ý niệm. Tốc độ đọc nên chỉ trung bình, không nhanh cũng không chậm, nhanh quá dễ bị nóng, chậm quá dễ bị lạnh. Giữa các nguyên (các dãy số) nên dừng một chút.
Về tổng quan, đa số bệnh nhân trong quá trình niệm số,xuất hiện những hiện tượng như đầu nhẹ nhõm, sáng mắt, thần khí thoải mái, mát nóng, hành khí v.v... với những cảm giác dễ chịu khác nhau. Loại cảm ứng này, nói chung trong quá trình niệm chỉ cần mấy phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện nên thuộc loại rõ ràng. Còn có rất ít trường hợp phải niệm tới nửa giờ hoặc dài hơn nữa mới xuất hiện cảm ứng thì thuộc loại ngầm. Người loại bệnh rõ ràng, nói chung chữa tương đối nhanh, còn người loại bệnh ngầm thì tương đối chậm, tuy nhiên hiệu quả chữa trị vẫn là ổn định.

Trong quá trình niệm nếu đầu, dạ dày, tim v.v... không cảm thấy gì thì cứ tiếp tục niệm, tức là đã sản sinh tác dụng chữa bệnh làm khỏe thân thể. Quan sát thời gian người bệnh niệm các mật mã tượng số. nói chung ngắn là vài giây, vài phút; nếu dài là mười mấy phút hoặc mấy chục phút thì sẽ thấy các cảm ứng khác nhau, như xuất hiện đầu mát, mắt sáng. thân thể nhẹ nhàng, dễ thở v.v... ngược lại. nếu xuất hiện ở đầu hoặc dạ dày chưa thoải mái hoặc có cảm ứng tim đập thất thường, ngắn hơi, khó chịu v.v... thì nói chung việc lập số có sai sót. cần lập lại số mới. Có những bệnh nhân không có những cảm ứng rõ ràng nhưng kiên trì niệm thì cũng có hiệu quả tương tự.
Niệm mật mã tượng số không câu nệ vào thời gian địa điểm, tư thế, trạng thái, phương hướng, trong sinh hoạt bình thường có thể tiến hành cả khi đi, khi ngồi và khi nằm. Nếu như sau khi thả lỏng nhập tĩnh, hoặc trước khi ngủ, hoặc sau thức giấc cũng có thể niệm thì hiệu quả càng tốt. Căn cứ vào bệnh tình, thời gian mỗi lần niệm có thể dài hoặc ngắn. Lúc nào nghĩ thấy thì niệm hoặc tương niệm đều được. Tất cả đều tuân theo tự nhiên.  
Sau khi bệnh đã khỏi, có thể tiếp tục niệm như cũ để củng cố hiệu quả điều trị, vừa là đế tăng cường sức khỏe. Trong quá trình niệm các mật mã tượng số, cơ năng sinh lý trong cơ thể sẽ ở vào trạng thái điều giải, năng lượng tin tức tương ứng trong tế bào của cơ thể luôn luôn tăng lên và xung kích vào ô bệnh, khi đó những chứng trạng ở phần bị bệnh  có khả năng tạm thời nặng lên; chỉ cần đầu, dạ dày và tim không có cảm giác bất thường là có thê tiếp tục niệm.
Liệu pháp tựợng số có thề sử dụng riêng lẻ trên lâm sàng, cũng có thể phối hợp với châm cứu v.v...
Trong quá trình điều trị, căn cứ vào sự thay đối bệnh tình của người bệnh mà điểu chỉnh thích đáng tượng số, nếu trong quá trình niệm cảm thấy dễ chịu thì vẫn làm như các bài đã có, không nên thay đổi.
Những ngưòi bệnh tinh thần không bình thường hoặc trí nhớ kém thì cấm sử dụng.
Khi dùng liệu pháp này thì không nên phôi hợp với các loại công pháp khí công khác, vì nó ảnh hưởng tới liệu pháp tượng số. 

Đọc tiếp

Ứng dụng lâm sàng đọc tượng số chữa bệnh

Hỏi đáp về đọc tượng số chữa bệnh

Học viên lớp DSNL15
Cơ sở 2 TDH

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Phân tích bài tập Nu na nu nống

Như hôm qua đã giới thiệu, hôm nay trang CLB DSNL xin giới thiệu bài viết của anh Nguyễn Văn Chuyền phân tích bài tập "Nu na nu nống" trên quan điểm Đông Y.

CÁI HAY CỦA "NU NA NU NỐNG"

 Tập "Nu na nu nống" ở Côn Sơn
Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng đang nói nhiều về thiểu năng tuần hoàn não, thiếu khí cơ tim, là nguyên nhân chính của chứng đột quỵ. Bằng sự hiểu biết ít ỏi của mình, tôi xin nêu mấy điều hay của bài tập dưỡng sinh "Nu na nu nống".

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

BÀN THÊM VÊ CHỮA CẢM, CÚM


Ta thường bị Cảm, Cúm, hai chứng bệnh này thường đi với nhau và thường mắc phải vào mùa tiết trời chuyển đổi (xuân-hè, thu-đông...).
Hải Thượng Lãn Ông phân tích:
- Con người và thiên nhiên là thống nhất.
- Khi thời tiết thay đổi, con người chưa thay đổi kịp nên sinh bệnh, gọi là bệnh "Thời Khí" (bây giờ ta hay gọi là bệnh CẢM, CÚM).
Cách phòng bệnh cảm cúm là dùng các loại lá thơm, với ý nghĩa là tinh hoa của cây cỏ tự nhiên, đun nước tắm gội, hay xông hơi, nhằm cho cơ thể mình thống nhất với thiên nhiên thì sẽ tránh được bệnh này. Phân tích này trùng khớp với hiểu biết của chúng ta ngày nay: tinh dầu thơm cây cỏ có tính kháng khuẩn, kháng virus. Tắm gội nước lá thơm sẽ làm tăng sức chống đỡ của cơ thể trước sự xâm nhập của virus khi thời tiết thay đổi. Đó là cái lý của phép xông nước lá thơm khi thời tiết thay đổi (để phòng bệnh) và chữa khi đã mắc bệnh.
Thiền Lửa Tam Muội đã dạy chúng ta 10 phép chữa bệnh. Tôi muốn trao đổi với các bạn đọc khi bị cảm cúm rồi thì chữa theo cách nào cho có hiệu quả. Đây là kinh nghiệm của tôi khi ứng dụng bài học.
1. Khi mắc bệnh cảm, cúm thường có cảm giác ớn lạnh, mệt mỏi, hắt xì hơi, nước mũi chẩy, ho...nặng hơn thì sốt nhẹ. Để lâu sẽ bị bệnh thứ phát (bội nhiễm) sinh ra viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi...
2. Có mấy cách ngăn chặn bệnh phát triển bằng cách vận dụng những bài học của ta. Tôi đã ứng dụng cho mình và gia đình con cháu rất có hiệu quả, không phải dùng tới thuốc gì cả. Cách xử lý bệnh như sau:
a. Vẽ ngay quẻ dịch dán vào các huyệt Đại Chuỳ, Phong Trì, Phong Môn, Thái Dương, Nghinh Hương, Thiên Dung, Hợp Cốc.
Nếu xổ mũi , tắc mũi, thì dán thêm vào Thượng Nghinh Hương, Ngoại Nghinh Hương.
Nếu có HO, thì dán thêm vào 2 huyệt Phế Du, ở phía ngực trước dán vào Thiên Đột, Đản Trung, 2 huyệt Trung Phủ, Vân Môn.
Chỉ cần dán liên tục 3-5 ngày là bệnh ngừng phát triển, có thể khỏi tuỳ theo thể trạng từng người và tuỳ thuộc vào việc chữa sớm hay chữa muộn. Chữa sớm thì có khi chỉ dán 1 ngày là ngưng bệnh.
b. Cách thứ 2 áp dụng khi phát hiện bệnh sớm, chữa ngay:
Phát công, dùng đầu ngón tay day vào các huyệt đã nói ở trên.
Có thể áp dụng bài thiền "Khí Hải Song Chưởng": sau khi đã thực hiện phần đầu bài thiền, đến giai đoạn cuối bài "thu năng lượng vào rốn và phát NL ra hai bàn tay", thì thay vì việc làm đó, ta đặt tay vào các huyệt đạo đã nói ở trên. Lúc đó thu NL vào rốn và phát NL vào các huyệt đó. Mỗi nơi thực hiện 4-5 phút, càng lâu càng tốt. Cách làm này rất hiệu nghiệm .
Khi bạn vì lý do nào đó mà húng hắng ho: hãy đặt tay vào Đại Chuỳ và Thiên Đột rồi phát năng lượng vào đó, chỉ 1-2 phút là ngừng ho ngay (hít vào thu NL, thở ra phát NL).
Nếu có sốt, muốn hạ nhiệt, hãy đặt 1 tay vào huyệt Đại Chuỳ, day nhẹ (luân xa 5), tay kia mở rộng bàn tay ôm lấy 2 huyệt Thái Dương và day nhẹ (động tác như động tác "Ngạnh Đầu" trong bài học). Chỉ thực hiện khoảng 3-5 phút là sốt nóng sẽ giảm ngay.

Kinh nghiệm này tôi đã bầy cho 1 số bạn bè bị Cảm, Cúm và họ đã áp dụng có kết quả tốt. Các bạn có kinh nghiệm gì về chủ đề này thì trao đổi nhé.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Cảm lạnh theo đông y: quan điểm & điều trị

BS. LÊ QUYÊN
CẢM LÀ GÌ?
Thuật ngữ "Cảm" theo Ðông y để chỉ những tình trạng bệnh lý gây ra bởi sự xâm nhập của các yếu tố thời tiết, khí hậu bất thường vào cơ thể. Yếu tố thường gặp nhất là lạnh, và những rối loạn cơ thể do nhiễm phải khí lạnh được gọi là cảm lạnh. Ðông y gọi cảm lạnh là "Thương hàn" (khác với bệnh Thương hàn (Typhoid) của Tây y.)
Trương Trọng Cảnh, tác giả bộ sách nổi tiếng Thương hàn luận, cho rằng vào mùa đông, hàn khí (khí lạnh) lưu hành, nếu cơ thể suy yếu thì chính khí không thể đối kháng được hàn tà, do đó hàn khí sẽ xâm nhập vào kinh lạc và tạng phủ gây ra bệnh thương hàn. Chính khí, tức khí dương (hay còn gọi là khí thái dương), là năng lực tự vệ của cơ thể con người chống lại tất cả mọi sự tấn công của những biến chuyển khí hậu, thời tiết bên ngoài (gió, mưa, lạnh, nóng, khô...). Khí dương này ở trên bề mặt da vào ban ngày và lui vào trong tạng phủ vào ban đêm. Do đó, người ta dễ nhiễm lạnh nếu nằm ngủ suốt đêm trước quạt máy, nơi có gió lùa hoặc trong môi trường quá lạnh.
Khí dương (hay khí thái dương) trong cơ thể do 2 kinh mạch thống lĩnh là kinh Túc thái dương bàng quang và Thủ thái dương tiểu trường. Sự phân bố của 2 kinh này chi phối toàn bộ phần sau cơ thể, được xem như hàng rào ngoài cùng để bảo vệ cơ thể. Khi khí lạnh phá vỡ được hàng rào này và xâm nhập vào cơ thể, các triệu chứng đầu tiên thường là ớn lạnh dọc xương sống, đau nhức cổ gáy, nhức đầu vùng đỉnh và sau gáy, đau ngang thắt lưng, lạnh 2 bàn chân.

VÌ SAO BỊ CẢM LẠNH?
Dĩ nhiên thủ phạm chính là khí lạnh, nhưng như đã nói trên, khí lạnh chỉ xâm nhập cơ thể và gây bệnh được khi khí dương của cơ thể suy yếu hoặc khi khí dương "chìm" vào trong. Một số yếu tố thuận lợi làm giảm sức chống đỡ của cơ thể là:
- Lao lực hoặc lao tâm: Làm việc quá sức mà không để ý đến sức khỏe hoặc không có điều kiện bồi dưỡng cơ thể đúng mức sẽ làm khí dương bị phân tán, suy yếu.
- Ăn uống lạnh: Ăn uống quá nhiều đồ lạnh làm cơ thể bị khí lạnh tấn công từ bên trong, do đó khi gặp khí lạnh bên ngoài thì không đủ sức chống đỡ.
- Lo buồn thái quá: Lo nghĩ, buồn bực quá nhiều làm ăn uống kém nên cơ thể suy mòn, khí dương suy giảm.
- Ban đêm khí dương lui vào sâu trong cơ thể (đã nói ở phần trên). Thời gian dễ bị cảm lạnh nhất là từ 11 giờ khuya đến khoảng 3 giờ sáng.

VÀI PHƯƠNG PHÁP ÐƠN GIẢN ÐIỀU TRỊ CẢM LẠNH
1. Ðánh gió
Mục đích là đem khí nóng vào cơ thể ngay trên kinh thái dương để cho thấm qua da.
Vật liệu gồm 1 đồng xu tròn (hoặc 1 muỗng bằng kim loại) cạnh tròn, không bén và 1 chai dầu (cù là, dầu nóng...). Có thể dùng 1 củ gừng tươi thay thế cho dầu.
Bắt đầu bôi dầu và dùng tay chà xát dọc 2 bên cột sống, cổ, vai rồi dùng cạnh của đồng xu hoặc muỗng đánh vào vùng đó theo chiều hướng lên hay xuống cũng được. Gọi là "đánh" nhưng thật ra là cạo nhẹ nhiều lần cho mặt da nóng lên. Như đã nói, đây là vùng chi phối của 2 kinh Thái dương trong cơ thể.
"Ðánh" gió đến lúc nào thì ngưng? Thường đánh cho đến khi cơ thể mất cảm giác ớn lạnh, đau nhức cổ gáy. Ða số người dân hiện nay thích đánh gió cho đến khi lưng bầm tím vì cho như thế là "có gió", bầm tím bao nhiêu càng hiệu quả vì "gió" bị trục ra ngoài càng nhiều(!). Ðây là quan niệm sai lầm vì khi bị nhiễm lạnh, cơ thể chúng ta sẽ đáp lại bằng một loạt các chuỗi phản ứng làm những Mastocyte (dưỡng bào) bị vỡ, phóng thích ra một số chất hóa học, trong đó có chất Histamin. Chất này gây ra một số triệu chứng của sự dị ứng và làm tăng tính thấm của các mao mạch dưới da. Do đó, khi đánh gió ta đã vô tình làm vỡ các mao mạch này, gây chảy máu. Vết bầm "có gió" chính là sự xuất huyết dưới da.
Nếu dùng củ gừng tươi, ta nên chọn củ to, rửa sạch, cho vào cối giã nhuyễn (cả vỏ), vắt nước cốt lên vùng cần đánh gió rồi dùng bã chà xát cho đến khi người nóng lên. Dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên rất dễ chịu mà sau đó vùng da tại chỗ lại không bị lạnh như một vài loại dầu nóng khác.
Khi nào không nên đánh gió? Vì mục đích đem sức nóng vào cơ thể nên phương pháp này không thể dùng trong trường hợp cảm nắng, trúng nắng. Nếu làm có thể gây nguy hiểm.
2. Xông hơi
Vật liệu: Một nắm lá "xông" có bán ở tất cả các chợ, gồm lá sả, lá bưởi, lá ngũ trảo, kinh giới, ngải cứu... Ða số những loại lá này đều có chứa các tinh dầu cay, nóng.
Cách làm: Rửa sạch các loại lá, bỏ vào nồi đậy kín, đun cho nước sôi khoảng 5-10 phút, nhắc xuống để trước mặt người bệnh đang ngồi, trên có trùm một cái mền để giữ hơi. Trong lúc xông, người bệnh nên thở chậm và sâu vì tác dụng chủ yếu khi xông là tác dụng qua đường hô hấp... Mồ hôi sẽ ra từ từ, bắt đầu từ trán, cổ, gáy, sau đó đến lưng, ngực, bụng. Nên ngừng xông khi thấy trong mình đã nhẹ bớt, hết cảm giác sợ lạnh, sợ gió. Dùng khăn khô lau mồ hôi, thay quần áo khô rồi nằm nghỉ.
Lưu ý khi xông: Chỉ nên cho mồ hôi ra từ từ, rươm rướm trên da. Do đó, khi xông nên mở nắp nồi từ từ. Không bao giờ lạm dụng xông nhiều lần vì sẽ làm mồ hôi thoát ra nhiều, khiến cơ thể mất một lượng nước lớn trong thời gian ngắn mà không bù lại kịp. Cũng cần lưu ý khi nấu nước xông: Không nên để sôi quá 15 phút vì sẽ làm các chất tinh dầu (thành phần tác dụng chính trong một nồi xông) bay hơi hết.
Trường hợp nào không nên xông?
- Khi bị cảm sốt và ra mồ hôi nhiều.
- Khi cơ thể quá yếu: Theo YHCT, khi cơ thể quá suy nhược là tình trạng dương khí yếu. Nếu bị cảm mà xông ra nhiều mồ hôi sẽ càng làm thoát khí dương ra ngoài, khiến cơ thể suy kiệt hơn.
3. Cháo giải cảm
Ðơn giản nhất là một tô cháo trắng nấu loãng, thêm một ít rau thơm như tía tô, kinh giới, quế hoặc vài lát gừng tươi. Có khi chỉ cần xắt vài lát hành ta, thêm ít hạt tiêu là đã thành một tô cháo giải cảm.
Năm 1978, nhà nghiên cứu Marvin Sackner đã lưu ý đến món thuốc dân gian này và chứng minh rằng: Hơi nước bốc lên từ tô cháo có tác dụng làm giảm sung huyết vùng mũi tốt hơn là hơi nước bốc lên từ một ly nước sôi. Tác dụng này chỉ có khi thêm vào tô cháo những "nguyên phụ liệu" như đã nói trên.
Lưu ý tác dụng của các loại rau kể trên có được nhờ thành phần chính là tinh dầu. Do đó, nên ăn khi cháo còn nóng và trong lúc ăn nên "tranh thủ" hít hơi nóng bốc lên từ tô cháo càng nhiều càng tốt, bởi vì lúc này, tô cháo còn có tác dụng như một nồi xông nhỏ. 
(Nguồn: ykhoanet.com)

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

Trao đổi

Thời tiết đang chuyển mùa. Mùa thu đang dần qua, mùa đông chưa tới, đang để lại dấu ấn đặc trưng của nó: đêm rét, sáng lạnh, trưa nóng, chiều mát, trời chợt mưa, chợt nắng đã làm cho các loại bệnh phát triển và làm cho cơ thể của con người ta chưa thích nghi kịp với thời tiết sẽ bị ốm, cảm, ho... Đối với các thành viên của câu lạc bộ DSTN thì chắc chắn ít bị ảnh hưởng của thời tiết, nhưng đối với những người xung quanh ta thì ít nhiều cũng đều bị "dính chưởng" cả, và các "bác sỹ" tình nguyện của CLB DSTN chắc chắn sẽ bận rộn lắm. Xuất phát từ ý nghĩ muốn giúp cho các "bác sỹ" đỡ bị bận rộn phát công chữa bệnh hơn, Hoàng Vân xin góp một vài kinh nghiệm để vượt qua được thời gian chuyển mùa này.
Trước tiên là cách mặc đồ khi đi làm hoặc đi ra khỏi nhà trong cả ngày: HV hay gọi là cách mặc theo kiểu "bóc hành", tức là mặc sao cho sáng đi thì thấy ấm, không bị lạnh, có thể mặc áo khoác có khóa kéo tới cổ, hoặc có khăn mỏng, nhỏ quàng kín cổ. Tới trưa trời nóng, có thể cởi bỏ đồ dần dần sao cho áo trong cùng là áo mát. Rồi khi chiều xuống, trời chuyển se lạnh, ta lại mặc áo vào. Với kiểu mặc "bóc hành" này, HV hay áp dụng cho các chuyến đi chơi xa, đi tham quan, leo núi hoặc đi công tác chuyển vùng.
Đây là mùa dễ làm cho cơ thể người ta hay bị cảm gió, cảm lạnh đột ngột nhất nên trong nhà lúc nào cũng nên có một chai (lọ hoặc hũ) rượu ngâm gừng tươi. Gừng vàng cũng tốt, tốt nhất là mua được gừng đen cùng với củ địa liền (bán nhiều ở Yên Tử vào mùa xuân). Gừng, địa liền mua về rửa sạch, để ráo nước rồi giã nát cho vào ngâm với rượu trắng. Sau vài ngày là dùng được. Lượng gừng phải đủ sao cho trong chai, gừng phải chiếm 2/3 lượng rượu.
Khi bị cảm lạnh, đau người ê ẩm, sợ gió, người lúc nào cũng ớn lạnh: uống một chén hạt mít rượu gừng đã được đun nóng; lấy bã gừng gói vào vải, chấm với rượu ngâm gừng hâm nóng đánh gió khắp người, từ trên trán xuống đến hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân.
Nên để một chai nhỏ rượu gừng trong nhà tắm, sau khi tắm xong nên đổ một ít rượu ra tay, xoa hai bả vai, gáy, trước cổ ngực và trán, tránh bị trúng phong (phải gió) khi ra ngoài đường. Đối với trẻ nhỏ, pha 01 chén hạt mít rượu gừng vào chậu nước tắm (chậu nước tráng mình), tránh gió cảm.
Bị cảm lạnh thường hay kèm đi ngoài phân lỏng.
Trong trường hợp bị đi lỏng, nhiều người chưa tìm nguyên nhân mà đã vội dùng ngay Béc bê rin để cầm lỏng, đó là điều không nên làm, mà trước tiên phải uống ngay bù nước (orezon), sau đó nhanh chóng xem xét nguyên nhân:
(1) Có do ăn uống phải thức ăn không an toàn VSAT TP hay không? Nếu do nguyên nhân này thì uống béc bê rin hoặc các loại thuốc "cầm" đi lỏng ngay rất không tốt, mà nên để "đi" cho hết chất độc trong người, trong lúc đó ta vẫn tiếp tục bù nước, sau đó nếu cần hãy uống thuốc. Nếu kèm theo sốt thì cần phải đi bệnh viện, còn nếu không sốt, thì bệnh sẽ tự khỏi.
(2) Nếu nguyên nhân không phải do thức ăn đồ uống, không sốt, mà cảm thấy ớn lạnh, sợ gió, đau bụng đi ngoài thì đó là đi ngoài do cảm lạnh. Trong trường hợp này cần uống ngay nước chè gừng nóng, có thể uống 2 cốc liền nhau. Có một loại chè gừng của Singapore bán ở các siêu thị rất ngon, tiện lợi, chỉ cần xé bọc, đổ ra cốc nước nóng là uống liền, chữa cảm lạnh, tụt huyết áp rất tốt. Sau đó dùng rượu gừng đánh gió như trên đã trình bày.
Một chút kinh nghiệm mà Hoàng Vân được truyền dạy, nay xin được phổ biến. Đây là cách chữa bệnh đối với người có huyết áp bình thường hoặc hơi thấp, còn đối với người có huyết áp cao xin mọi người lưu ý thêm các bài thuốc khác để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

Xoa bóp phòng cảm lạnh

Cơ thể được bảo vệ khỏi tà khí bên ngoài nhờ da, lông và vệ khí. Nếu ta yếu mệt, chức năng của hệ thống nói trên sẽ suy giảm, tạo điều kiện cho tà khí xâm nhập. Điều này ảnh hưởng xấu đến các kinh lạc và dẫn đến cảm lạnh, nhất là khi trời đột ngột trở lạnh hoặc mưa.
Theo học thuyết Kinh lạc, việc châm cứu, xoa bóp một số huyệt nhất định trên cơ thể sẽ thúc đẩy sự lưu thông khí huyết, từ đó làm tăng sức đề kháng với bệnh tật. Để phòng ngừa bệnh cảm lạnh, bạn có thể thực hiện 4 động tác sau:
 huyệt Nghinh hương
Động tác 1: Đan các ngón của hai bàn tay vào nhau, hai ngón tay cái tự do, xát phần gan 2 ngón tay cái với nhau cho tới khi nóng lên. Vẫn giữ nguyên tư thế của bàn tay, dùng hai ngón cái xát từ trước trán, phần gốc mũi sang hai bên thành và cánh mũi, tới huyệt nghinh hương (điểm gặp nhau của đường ngang qua chân cánh mũi và rãnh mũi má). Xát khoảng 15-20 lần cho đến khi vùng đó nóng lên. Lực xát vừa phải, đừng mạnh quá để không gây tổn thương da.
Động tác này có tác dụng tăng lưu thông khí huyết vùng mũi, làm ấm không khí đi qua mũi, ngăn ngừa khí lạnh xâm nhập gây bệnh.
 huyệt Hợp cốc
Động tác 2: Day huyệt hợp cốc bên trái khoảng 15 lần bằng đầu ngón tay cái của tay phải, sau đó đổi tay để day huyệt hợp cốc bên kia. Day vừa phải, có cảm giác tê tức là được.
Cần xác định thật đúng vị trí huyệt hợp cốc: Xòe rộng ngón cái và ngón trỏ, đặt nếp gấp đốt 1-2 của ngón cái bên kia vào mép da căng giữa hai ngón, áp đầu ngón cái đó xuống khoảng giữa hai xương đốt bàn tay. Đầu ngón cái ở đâu, chỗ đó là huyệt hợp cốc, ấn vào có cảm giác tê tức là đúng.
Việc day hợp cốc có tác dụng đuổi tà khí gây bệnh ở phần biểu, phần nông của cơ thể ra ngoài.
Động tác 3: Xát hai lòng bàn tay vào nhau cho nóng lên, áp vào mặt từ trước trán, xát xuống dọc theo hai bên mũi tới hàm dưới; sau đó xát vòng sang hai bên mặt, má (lòng bàn tay phải áp sát da mặt). Khi tới vành tai, dùng ngón cái và ngón trỏ để xát, kéo nhẹ hai vành tai ra ngoài cho tới khi nóng đỏ lên. Làm từ 15 đến 20 lần.
Động tác xát mặt giúp tăng cường tuần hoàn tại chỗ. Theo Đông y, tai là nơi hội tụ của các đường kinh nên việc xát và kéo vành tai cũng có tác dụng bảo vệ sức khỏe.
Động tác 4: Day huyệt nghinh hương hai bên với lực day vừa phải để tăng luồng không khí qua mũi. Động tác này giúp phòng và chữa tình trạng ngạt, tắc mũi do lạnh rất hiệu quả.
Lưu ý: Để việc xoa bóp có hiệu quả cao, cần thực hiện đều đặn hằng ngày. Trước khi xoa, phải rửa tay sạch sẽ, cắt gọn móng để tránh gây tổn thương, nhiễm trùng da.
ThS Phạm Đức Dương
(Sức Khỏe & Đời Sống)
(Nguồn ảnh: Internet)

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Người bệnh có thể tự mình làm giảm nhanh cơn cao huyết áp

Lương y Võ Hà
Được xem là cao huyết áp khi chỉ số huyết áp cao hơn 14cmHg và chỉ số huyết áp dưới lớn hơn 9cmHg. Cao huyết áp với hệ quả tai biến mạch máu não và những di chứng của nó luôn là nỗi ám ảnh của nhiều người lớn tuổi. Ngày nay, mặc dù y học đã có những bước tiến vượt bậc, các triệu chứng này hiện vẫn gây tốn kém nhiều công sức và tiền của cho xã hội.
Tuy nhiên có một điều mà ít người quan tâm là với một số động tác đơn giản của y học dân gian, người ta có thể làm giảm cơn cao huyết áp đang phát triển để khống chế phần lớn những tác hại của nó hoặc ít ra có thể ngăn chận những diễn biến xấu hơn trong khi bệnh nhân chờ được chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở chuyên môn cần thiết.
Huyết áp cao có thể là triệu chứng của nhiều căn bệnh khác nhau, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó việc điều trị dứt điểm cần sự chẩn đoán và thời gian thích hợp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến một phương pháp đơn giản mà người bệnh có thể tự thực hiện để "cắt cơn" cao huyết áp, giải tỏa kịp thời nguyên nhân gây ra tai biến về não trước khi được sự chăm sóc của thầy thuốc.
Theo y học cổ truyền, triệu chứng huyết áp cao là một tình trạng khí nghịch do tình chí hoặc do yếu tố lục dâm (phong, hàn, thử, thấp, táo hỏa) gây ra. Giải quyết triệu chứng này đồng nghĩa với việc giáng khí, làm cho khí đang lưu chuyển ngược lên đầu sẽ hướng xuống phía dưới và tỏa ra lớp da ngoài của cơ thể.
NHỮNG ĐỘNG TÁC CỤ THỂ GỒM:
1. Vuốt ấm hai vành tai
Dùng ngón cái và ngón trỏ của mỗi bàn tay vuốt dọc vành tai cùng bên, từ trên xuống dưới khoảng 9, 10 lần. Vành tai và cột sống có những điểm phản xạ tương ứng với nhau, do đó vuốt ấm vành tai cũng là tác động vào cột sống lưng, vừa có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm, vừa kích thích sự lưu thông khí huyết ở phần vệ khí do kinh bàng quang phân bố dọc hai bên sống lưng (nếu có người thứ hai bên cạnh có thể nhờ người này trực tiếp ngồi sau lưng dùng bàn bay tay phải vuốt dọc sống lưng từ trên gáy xuống đến tận thắt lưng để gia tăng thêm tác dụng).
2. Vuốt dọc hai bên mũi
Mỗi bàn tay vuốt một bên mũi, vuốt đều hai bên cùng một lúc. Dùng ngón tay trỏ vuốt từ ấn đường (điểm giữa hai đầu chân mày) xuống dọc theo hai bên mũi qua khóe miệng đến tận chót cằm. Vuốt chậm, nhẹ và làm không dưới 15 lần.
Kích thích huyệt ấn đường có tác dụng làm phóng thích chất endorphine nội sinh có thể làm cho an thần, hạ huyết áp và giáng khí. Vuốt dọc theo hai bên mũi xuống cằm là tác động vào hai kinh dương minh. Học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền cho rằng kinh dương minh là kinh dương, tập trung nhiều huyết khí, huyết; có chức năng quan trọng nhất trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài. Động tác này làm gia tăng sự lưu thông khí huyết ở phần vệ khí, gây ấm người và làm nhẹ áp lực lên thành mạch.
3. Vuốt dọc hai chân mày
Dùng hai ngón tay trỏ và giữa vuốt từ ấn đường đi dài theo xương chân mày ra thái dương đến tận mí tóc ở phía ngoài đuôi mắt. Vuốt mỗi bên khoảng 10 lần. Vùng chân mày và hai cánh tay có những điểm phản xạ tương ứng nhau, do đó động tác này ngoài việc giải tỏa sự sung huyết tại những huyệt vị thường bị tắc nghẽn ở vùng trán còn làm cho khí huyết lưu thông ra hai cánh tay và bàn tay để giúp nhẹ áp lực ở đầu.
4. Ngồi hoặc nằm thư giãn
Ngồi thoải mái, lưng tựa ghế hoặc nằm xuổng thư giản hít thở điều hoà, tư tưởng tập trung vào mười đầu ngón chân. Theo y học cổ truyền thì thần ở đâu khí ở đó, do đó khi tập trung ý nghĩ tại vùng bàn chân, khí trong cơ thể từ phía trên đầu sẽ lưu chuyển về hướng bàn chân nên có tác dụng hạ khí. Việc tập trung tư tưởng càng tốt, hiệu quả hạ khí càng cao. Động tác này phải kéo dài hơn 10 phút. Trên thực tế, có nhiều người có khả năng thư giãn và tập trung tốt trong khi thực hành đến bước 4 đã từ từ rơi vào giấc ngủ.
Mỗi khi cảm nhận được những dấu hiệu huyết áp tăng cao như căng, nặng ở vùng thái dương, đau đầu, mờ mắt, mắt đỏ..., người bệnh nên ngồi xuống, tập trung tinh thần thực hành lần lượt 4 động tác trên. Bình tĩnh và tự tin là yếu tố cần thiết trong quá trình thực hiện các động tác. Sau khoảng 15 phút thực hành, bệnh nhân có thể cảm thấy bớt đi cảm giác khó chịu ở vùng đầu, nhịp đập của tim sẽ chậm lại, tay chân sẽ ấm lên. Đó là lúc huyết áp đã hạ bớt.
Ngoài việc áp dụng đã hạ huyết áp, thực hiện những động tác trên còn là một biện pháp dưỡng sinh tốt để ổn định thần kinh, gia tăng việc lưu thông khí huyết trong cơ thể, giúp giữ thể trạng tốt.
Trường hợp thực hành để giúp giữ gìn sức khỏe, riêng giai đoạn 4 nên tập trung tư tưởng tại vùng đan điền (dưới rốn khoảng 3 phần) thay vì tập trung ở 10 đầu ngón chân.
(Nguồn: ykhoanet.com)

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Phòng và chữa mất ngủ

Đối với người mất ngủ, uống thuốc chỉ là trị ngọn, cần phải tìm ra nguyên nhân chính mà trị tận gốc, đồng thời bồi dưỡng cơ thể, duy trì nếp sống điều độ, tập thư giãn tinh thần, tập thể dục dưỡng sinh, biết cách ăn uống thích hợp… Cần kết hợp nhiều mặt mới mong giải quyết được chứng bệnh này.
Theo y học cổ truyền việc phân loại chứng mất ngủ cũng không ngoài hai chữ “thực – hư”. Tâm lý huyết hư, tâm thận bất giao thường thuộc hư chứng. Can đởm hỏa vượng, thực trệ đầm hỏa là do thực chứng. Điều quan trọng là phân biệt hai loại này để theo đó mà chữa trị: Hư thì bổ, thực thì tả.
Mất ngủ do hư chứng: Lo lắng, hồi hộp, mệt mỏi thần khí, đầu óc choáng váng tâm phiền ăn ít, gầy yếu, thức ngủ bất thường, miệng khát, di tinh, mạch hư hoặc tế sác.
Mất ngủ do thực chứng: Vùng ngực và bụng trên bị mãn, bứt rứt, bồn chồn, dễ tức giận, đầu choáng váng, đau nhức, đàm nhiều, đại tiện bí, hông sườn đau, miệng đắng, mạch huyết hạt, lưỡi đỏ, rêu thô.
Phép trị hư chứng là bố khí dưỡng huyết, tư âm giáng hóa – Trị thực chứng là thanh tiết hóa can đởm, kiện tỳ, hóa đàm, tiêu trệ.
Giấc ngủ là liều thuốc tiên giúp phục hồi sức khỏe, quan trọng không kém gì ăn uống. Giấc ngủ quý giá vô cùng, phải được bảo vệ và phải học cách ngủ cho tốt. Để ngủ cho tốt, cho sâu phải thực hiện nhiều biện pháp, trong đó món ăn bài thuốc có tác dụng phòng và chữa chứng mất ngủ có hiệu quả.
Dưới đây là những món ăn bài thuốc phòng, trị chứng mất ngủ có hiệu quả
Công thức 1: Tiểu mạch 45g, đỗ đen 30g, dạ hợp 30g. Sắc với 200ml nước, uống nước và ăn đỗ đen, ăn tiểu mạch.
Công thức 2: Quả dâu chín 75g, đường phèn 25g, nấu nước uống.
Công thức 3: Tiểu mạch 60g (bỏ vỏ), đại táo 15 quả, cam thảo 30g. Cho vào 4 bát nước, sắc còn 1 bát, uống vào lúc sáng và tối.
Công thức 4: Gạo 100g, nhân táo chua 30g, trước tiên cho vào sắc nhân táo chua, bỏ bã đi, lấy nước nấu với gạo thành cháo, ăn vào lúc đói bụng, chữa mất ngủ do lao tâm, suy nghĩ.
Công thức 5: Táo đỏ 30g, hành củ 5 củ. Rửa sạch cho nước vào sắc, buổi tối trước khi đi ngủ ăn cả cái và nước, chữa giấc ngủ không sâu.
Công thức 6: Rau cần 100g, mật ong 30ml. Rau cần rửa sạch thái đoạn. Cho rau vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, cho mật ong vào khuấy đều. Rau cần có tác dụng trấn tĩnh thần kinh rất tốt, người hay mất ngủ uống nước rau cần hâm nóng sẽ giúp cải thiện giấc ngủ.
Công thức 7: Hành củ 120g, hành củ rửa sạch thái nhỏ cho vào cốc đổ nước sôi hãm như pha trà uống. Có tác dụng cải thiện tình trạng mất ngủ.
Công thức 8: Hành tây 2 củ, rượu nho 400ml. Hành tây rửa sạch, bỏ vỏ, thái lát, cho hành vào bình, đổ rượu nho vào, bịt kín miệng bình, ngâm trong 7 ngày, để nơi tối mát. Sau 7 ngày cho hành tây ra để riêng, bảo quản rượu nho và hành tây trong tủ lạnh.
Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 1/4 cốc, vừa uống vừa ăn hành tây.

Ngoài việc sử dụng các món ăn bài thuốc như trên, để có một giấc ngủ ngon, bạn hãy thực hiện đúng và đầy đủ 10 “quy tắc vàng” như dưới đây:
1. Ngủ từ 7 đến 8 tiếng.
2. Yên lặng hoàn toàn trong phòng ngủ, ánh sáng hoàn toàn tắt. Nhiệt độ trong phòng từ 20 – 25 độ C.
3. Trước khi ngủ tránh thảo luận căng, tránh đọc những vấn đề gây suy nghĩ nặng và xúc động mạnh. Quên hết lo lắng buồn phiền.
4. Đi ngủ vào một giờ cố định.
5. Nên ngủ sớm và dậy sớm.
6. Thông khí trong phòng trước khi đi ngủ, ngủ mở cửa sổ ngay cả trong mùa đông.
7. Buổi tối trước khi đi ngủ nên đi dạo chơi ngoài trời trong sạch một lát.
8. Bữa ăn tối phải nhẹ nhàng, ăn trước khi đi nằm từ 2 – 3 tiếng.
9. Không nên làm quen với các loại thuốc ngủ.
10. Chế độ sinh hoạt đúng mức sẽ tạo nên giấc ngủ tốt.

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

GAN NHIỄM MỠ VÀ CÁCH ĂN UỐNG

ThS. BS. Dương Công Minh
Trung tâm Dinh dưỡng TP. HCM
1. Gan nhiễm mỡ (GNM) là gì?
- GNM còn gọi là thoái hóa mỡ gan. Đó là tình trạng lượng mỡ tích tụ trong gan > 5% trọng lượng gan. Triệu chứng thường thấy là chứng gan to kín đáo, gia tăng vừa phải các men chuyển hóa và phosphatase kiềm và hầu hết là không nguy hiểm.
2. Phân loại GNM
Qua kết quả sinh thiết gan (lấy một mẫu mô gan nhỏ đem phân tích cấu trúc dưới kính hiển vi), cho thấy có 3 loại GNM:
a. Gan thoái hóa mỡ đơn thuần: gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, không có kèm theo tình trạng viêm gan.
b. Viêm gan thoái hóa mỡ do rượu: ngoài tình trạng gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, kèm theo tình trạng viêm gan, mô gan có thể bị sẹo hoặc bọ xơ và tiền sử uống rượu nhiều.
c. Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu: kết quả sinh thiết giống loại b, nhưng không có tiền sử uống rượu (hoặc uống rượu không đáng kể).
3. Nguyên nhân gân nên GNM?
a. Ai hay bị?
- Nhiều năng lượng, béo phì.
- Tiểu đường type 2.
- Nghiện rượu.
- Suy dinh dưỡng thiếu protein, giảm cân quá nhanh.
- Dùng thuốc độc cho gan.
b. Ăn thế nào hay bị?
- Nhiều năng lượng, nhiều béo.
- Quá ít đạm (nhịn đói, suy dinh dưỡng thiếu protein…).
4. Biểu hiện của GNM
Những người bị GNM đa phần đều không có triệu chứng bởi vì tình trạng lắng đọng mỡ tại gan xảy ra từ từ nên các biểu hiện của nó cũng khó cảm thấy. Chỉ khi nào tốc độ lắng đọng mỡ trong gan xảy ra nhanh, lúc đó gan có thể lớn, bao gan căng ra và khi đó bệnh nhân có thể có cảm giác đau tức hoặc nặng vùng gan. Trong một số trường hợp, tuy nhiên rất hiếm, GNM cũng có thể gây tình trạng vàng da, buồn nôn và nôn.
5. Điều trị GNM như thế nào?
GNM hầu hết không phải là bệnh lý của gan mà chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan mà thôi. Vì thế điều trị GNM chủ yếu là điều trị các nguyên nhân cơ bản gây bệnh, cụ thể:
a. Nếu bị dư cân – béo phì: áp dụng chế độ ăn hợp lý và chế độ tập luyện vận động để giảm cân.
b. Đối với các bệnh lý gan có liên quan đến uống rượu: ngưng uống rượu.
c. Ngưng ngay những thuốc có khả năng gây độc cho gan và thay thế bằng những thuốc an toàn theo hướng dẫn của bác sĩ.
d. Các bệnh rối loạn chuyển hóa (như tiểu đường…): khống chế lượng đường trong máu luôn ở mức độ bình thường.
e. Viêm gan siêu vi: kiểm soát tình trạng viêm và những diễn tiến bất lợi dẫn đến xơ gan.
Chú ý rằng, ngoài việc áp dụng một chế độ thuốc men để nhằm đào thải bớt sự lắng đọng mỡ quá mức trong cơ thể cũng như để khống chế diễn tiến bất lợi của các bệnh lý cơ bản là nguyên nhân gây nhiễm mỡ gan, ở góc độ dinh dưỡng, có thể tự giảm thiểu tình trạng lắng đọng mỡ ở gan qua:
5.1. GNM phải ăn uống ra sao?
- Giảm cân nếu có thừa cân, béo phì (hạn chế năng lượng dư thừa).
- Giảm ăn thực phẩm giàu cholesterol như các loại đồ lòng, phủ tạng, da…động vật, lòng đỏ trứng…
- Hạn chế chất béo: ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá).
- Ăn chất đạm vừa phải đúng với khả năng của gan.
- Một số thức ăn được xem là “thuốc” có tác dụng “giảm mỡ” tốt như: dầu đậu nành, đậu hà lan, cà chua tươi chín, ớt vàng, rau ngót, rau cần tây, diếp cá, tỏi, bắp chuối (bông chuối)…; trái cây nên lưu ý chanh, cam, quýt, bưởi, táo chín… trà xanh, hoa hòe…
- Tăng cường lượng rau, trái cây (mỗi ngày, mỗi người nên ăn tối thiểu 300g rau xanh, 200g quả chín tươi).
- Ngưng uống rượu.
5.2. Vận động như thế nào?
Cần tăng vận động, tập thể dục thường xuyên trên 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần.
6. Một số thực phẩm khuyên dùng cho người bị GNM
1. Nhộng tằm:
Có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.
2. Nấm hương:
Chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.
3. Lá trà:
Có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành mạch, làm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
4. Lá sen:
Giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen đượcc dùng pha nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.
5. Bắp trái, rau cần:
Có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân GNM.
6. Các loại rau trái tươi khác:
Cải xanh, cải cúc, rau muống… có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột… thanh nhiệt, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu đậu phộng, dầu mè, dầu đậu nành… chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; Các thức ăn chế biến từ đậu nành, đậu xanh, đậu đen…
7. Thực phẩm cần kiêng:
Đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ… Các thứ quá cay và nóng như gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc…
7. Làm sao để phòng ngừa GNM?
Để tránh bị GNM, chu`ng ta cần tuân thủ theo một số hướng dẫn chung sau:
- Có chế độ ăn hợp lý: ăn đa dạng, ăn chừng mực, ăn thực phẩm gần với thiên nhiên nhất.
- Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân).
- Hạn chế tối đa rượu bia.
- Cần tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những thuốc gây độc cho gan.
- Kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglyceride máu định kỳ mỗi 6 tháng (hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi cá nhân).
8. Các phương tiện nào có thể giúp chẩn đoán được GNM?
- Qua siêu âm hoặc chụp cắt lớp (CT scan) đều có thể chẩn đoán được GNM. Trước đây các nhà chuyên môn cho rằng để có chẩn đoán chính xác nhất thì phải áp dụng sinh thiết gan.
- Tuy nhiên hiện nay, việc áp dụng sinh thiết để chẩn đoán GNM không còn cần thiết. Khi mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ngày càng tốt hơn (siêu âm, CT scan…) và việc xét nghiệm máu (cholesterol, triglyceride máu, các men gan) để kiểm tra sức khỏe định kỳ đã trở nên dễ dàng do người dân ý thức nhiều về việc bảo vệ sức khỏe… đủ để phát hiện cơ thể có bị GNM hay không.
9. Kết luận:
- Thực chất, GNM đã có từ thời xa xưa, xảy đến cho bất kỳ những ai có lối sống thiếu vận động và ăn uống bất hợp lý, quá thừa thải năng lượng.
- GNM ở hầu hết các trường hợp chẩn đoán không là bệnh lý, đó chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan. Tuy nhiên, 20% GNM có thể diễn tiến đến xơ gan, điều này hẳn có ý nghĩa rất lớn cho những ai mong muốn một cuộc sống khỏe mạnh và dài lâu. Áp dụng các nguyên tắc dinh dưỡng nêu trên, hy vọng sẽ hữu ích cho mọi người để đề phòng GNM.