Có một nơi mọi người đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi, gặp nhau mỗi tuần một lần, hàng tháng cùng nhau đi dã ngoại để luyện tập, để cười vui, để chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Đó là chính là Câu lạc bộ Dưỡng sinh Năng lượng thuộc chi hội y học Esperanto - Hà Nội của chúng tôi. "Vui, khỏe, sống có ích cho đời" là mục tiêu của Câu lạc bộ chúng tôi.
Đề nghị ghi rõ nguồn http://luatamuoi.com/ khi sao chép những bài viết chia sẻ từ trang Câu lạc bộ DSNL.
Mọi liên hệ xin gửi về một trong 3 địa chỉ ở mục LIÊN HỆ. Xin trân trọng cảm ơn."

Hiển thị các bài đăng có nhãn bài thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

CÂY GIAO CHỮA VIÊM XOANG

I/ Mô tả
Là một loại cây thuộc họ xương rồng, không lá, không gai. Có nơi lại gọi là cây nọc rắn, cây càng tôm, cây xương khô, cây giao hay cây san hô xanh.
Cây mọc hoang nhiều nơi. Ở thôn quê, cây có thể dùng làm hàng rào. Nhiều nhà ở thành phố trồng làm cây cảnh. Thân gồm nhiều đốt tròn có đường kính như chiếc đũa, màu xanh, có độ dài không đều, mọc tủa ra các phía. Lá nhỏ, hẹp, rụng sớm, chỉ còn cành nhánh trơ trọi. Thân khi bẻ ra thấy nhiều mủ màu trắng đục như sữa, và chính mủ này là tác nhân trị bệnh của cây. Cây dễ trồng bằng cách cắt cành và giâm xuống đất ẩm. Đoạn cây được cắt ra nên chọn hơi lớn một chút, từ 3, 4 đốt trở lên, để đảm bảo cây mạnh, dễ bén rễ. Sau khi cắt rời đoạn cây thì nên để trong bóng râm chừng một hoặc hai ngày cho khô mủ, trồng sẽ nhanh bén rễ hơn. Nếu lấy cây để dùng nhưng chưa xài tới thì nên giâm ngay xuống đất để giữ độ tươi của cây (cây không bị khô mủ) để dùng dần. Sau khi giâm, ta tưới nước vừa phải mỗi ngày, sau vài ngày thì cây sẽ bén rễ, rồi dần sẽ nhảy nhánh con, phát triển tốt.
Nếu bẻ nhánh ra thấy CÓ NHIỀU MỦ TRẮNG ĐỤC NHƯ SỮA thì chắc chắn đúng là cây thuốc.

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

Tác dụng của lá rau khúc

 Nguồn: Internet
Bánh khúc hay xôi khúc là loại bánh có nguồn gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm từ lá rau khúc, gạo nếp, nhân đậu xanh, thịt lợn mỡ. Bánh thường được làm vào mùa rau khúc - dịp tháng 2, tháng 3 âm lịch.
Ở Hà Nội, bánh thường được rao bán vào các buổi tối, người bán (thường là nam) đội thúng bánh trên đầu đi dọc các phố và rao "Khúc đê..." với một âm điệu rất đặc biệt. (Nguồn: Wikipedia)
Khi không phải là mùa lá khúc bạn vẫn có thể mua được những chiếc bánh khúc với nhân làm bằng lá khúc phơi khô, tuy vậy không ngon bằng loại bánh được làm bằng lá khúc tươi. Ai đã từng ăn loại bánh khúc này khó có thể quên được hương vị của nó. Xin giới thiệu tác dụng khác của lá khúc dùng trong việc trị bệnh hen suyễn, tiêu đờm. Bài đăng trên trang Tiền phong Online.

Rau khúc trị hen suyễn, tiêu đờm

 Cây rau khúc (ảnh: Internet)
TPO - Rau khúc là cây mọc hoang ở nhiều vùng trên đất nước ta. Nhiều nhất là mọc ở vùng ruộtng khô ở miền Bắc. Cây rau khúc dùng để làm bánh và làm thuốc là cây rau khúc nếp vì còn một loại khúc khác là rau khúc tẻ. Rau khúc nếp có vị ngọt, tính bình có tác dụng trị ho, tiêu đờm rất tốt.

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây rau khúc

Trị chứng viêm họng, sưng đau khó nuốt: Lấy một nắm rau khúc nếp tươi rửa thật sạch, nhai nát cùng với vào hạt muối rồi nuốt từ từ nước thuốc này. Ngày nhai 3 - 4 lần sẽ cho kết quả tốt.
Trị chứng ho: Khi bị ho lấy khoảng 15g rau khúc tươi rửa sạch sắc với 300ml nước còn 100ml thì chia ra uống làm 3 lần trong ngày. Chỉ cần uống 3 - 5 hôm là khỏi.
Trị chứng hen suyễn: Lấy một nắm rau khúc tươi rửa sạch vò nát, một miếng gừng giã dập. Cả hai thứ cho vào siêu đất, đổ 500ml nước, sắc còn 200ml thì chia uống làm 2 lần trong ngày. Uống lúc nước thuốc còn ấm là tốt nhất.
Trị chứng cảm sốt: Khi bị cảm sốt, đau đầu, mệt mỏi có thể dùng khoảng 30g rau khúc phơi khô, 10g hành củ, 10g gừng tươi sắc cùng nước, rồi chia làm 3 lần, uống trong ngày cho kết quả tốt.
BS Nguyễn Thị Nhân
(Nguồn: tienphong.vn)

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Giải độc gan, thận

Lương y Hoàng Duy Tân

 Nguồn ảnh: Internet
Hiện nay thông tin hàng ngày cho thấy, môi trường sống của chúng ta ngày càng bị báo động vì những tác hại của các chất thải, vệ sinh thực phẩm cũng bị báo động vì người ta sử dụng quá nhiều hoá chất độc hại đối với người tiêu dùng. Trong cơ thể con người, gan và thận được coi là hai “nhà máy” xử lý chính các chất độc hại. Vì vậy, cần phải tìm cách “tự bảo vệ lấy chính mình” bằng cách thanh lọc (giải độc) cho gan và thận.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Trà và các món ăn bổ dưỡng từ hoa cúc

Nói đến hoa chúng ta thường nghĩ tới vẻ đẹp cùng hương thơm của chúng. Đó cũng là lý do vì sao chơi hoa lại trở thành một trong những cách thưởng thức cuộc sống. Song cũng thật lý thú khi nói tới công dụng của hoa trong việc phòng và chữa bệnh. Đang độ thu đến! Mang theo đó là những cơn gió nhẹ và một bầu trời trong vắt, thiên nhiên như ban tặng cho hoa cúc những gì thuận lợi nhất để có thể sinh trưởng và phát triển tươi tốt. Hoa cúc đã trở thành ấn tượng thu trong tâm trí mỗi người. Tình cờ đọc được một bài viết về công dụng của hoa cúc trích trong cuốn “Trà và các món ăn bổ dưỡng từ hoa” (tác giả Tạ Ngọc Ái, NXB Thanh Niên, 2008), Diệu Minh xin được chia sẻ cùng mọi người.

Công dụng của hoa cúc
 Hoa cúc vàng
Hoa cúc có rất nhiều loài, tất cả đều có thể sử dụng làm thuốc hoặc thực phẩm. Nhưng hoa cúc vàng và hoa cúc trắng là hai loại hoa thông dụng nhất.
Hoa cúc tính mát, vị đắng, có công hiệu thanh tâm, giải nhiệt (nhất là ở tim, gan, lợi tì thận),
giải độc, có tác dụng lợi tuần hoàn, cân bằng sinh lý, tiêu đờm, trị ho, lợi tiểu, bổ gan, trị
đau đầu, đau răng, hoa mắt, đau mắt đỏ, hoa mày chóng mặt, sưng quai bị, nhiệt, cảm cúm, cảm lạnh, đau khớp chân, khớp tay, viêm hạnh sữa, vú nổi nhọt, sốt, đi đái dắt… Ngày dùng từ 8-16g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ngoài ra, tinh dầu từ nụ hoa cúc vàng còn có tác dụng kháng khuẩn

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

Lá nhót chữa bệnh đường hô hấp

Cây nhót, cây còn có tên: Co lót (dân tộc thái); trong Đông y gọi là "hồ đồi tử", "bồ đồi tử", "lô đô tử", "thanh minh tử"...
Ngoài tác dụng dùng quả để ăn, toàn bộ các bộ phận của cây nhót đều có thể sử dụng làm thuốc. Theo đông y:
- Quả nhót có vị chua chát; tính bình. Có tác dụng thu liễm chỉ huyết (chống chảy máu), chỉ khái bình suyễn. Dùng chữa rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, ho suyễn, băng huyết, sán khí, trĩ lở loét...
- Rễ cây nhót thường đào vào tháng 9 - 10, phơi khô dùng dần, có vị chua, tính bình. Có tác dụng chống ho, cầm máu, trừ phong, lợi thấp, tiêu tích trệ, lợi yết hầu. Dùng chữa các chứng bệnh ho suyễn, thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, phong thấp khớp xương đau nhức, hoàng đản tả lị, trẻ nhỏ cam tích, yết hầu sưng đau.
- Lá nhót có vị chua; tính bình. Dùng chữa các chứng ho, hen, ho ra máu, khó thở, ung nhọt. Đặc biệt theo sách " Bản thảo cương mục" của nhà dược học lý Thời Trần: Dùng lá nhót chữa hen suyễn, ngay cả đối với người bệnh nặng cũng có kết quả tốt. Sách đề cập tới trường hợp một người mắc bệnh đã 30 năm, uống lá nhót bỗng nhiên khỏi bệnh.
+ Chữa các chứng ho: Lá nhót tươi 30 g, sắc với nước, thêm chút đường vào uống trong ngày.
+ Ho ra máu do lao phổi: Lá nhót tươi 24g, đường 15g; dùng nước sôi hãm như hãm trà; ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
+ Hen phế quản; Viêm khí quản mạn tính: Lá nhót, tỳ bà diệp, mỗi thứ 15g, sắc nước uống, hoặc dùng lá nhót sao vàng tán mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 - 6g, có thể trộn thêm chút đường hoặc mật ong, chiêu thuốc bằng nước sôi.
+ Chữa hen suyễn: (1) Dùng lá nhót sao vàng, tán mịn, ngày uống 2 lần vào sáng sớm và buổi tối, mỗi lần 4g, dùng nước cơm nóng chiêu thuốc; liên tục trong 15 ngày (một liệu trình); trường hợp cần thiết có thể điều trị nhiều liệu trình.
(2) hoặc dùng lá nhót tươi 1 lạng, sắc nước, chia 3 lần uống trong ngày, liên tục trong 10 - 15 ngày.
+ Chữa hen suyễn, khạc nhổ ra máu: Lá nhót khô 30g (tươi 50 - 60g), lá bồng bồng tươi 5 lá - lau sạch lông, thái nhỏ, tất cả đem sắc nước uống.

(Theo bài: "Thuốc vườn nhà" trích trong Tri thức trẻ số 309, tháng 2/2010)

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010

XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Lương y Võ Hà
Trong các chứng tai biến mạch não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc xê dich, di chuyển người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não bị hoại tử không thể hồi phục được. Do đó, việc xử lý cấp cứu kịp thời và đúng phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị và phục hồi hoàn toàn căn bệnh này.

Tai biến mạch não là gì?
Tai biến mạch não còn gọi là đột qụy là một thể rối loạn tuần hoàn não cấp do việc cung cấp máu lên một phần não bị gián đoạn. Bệnh thường xảy ra khi người bệnh trải qua một sự thay đổi không khí đột ngột từ nóng sang lạnh, bị gió lùa, sau khi gắng sức làm việc gì đó, sau khi uống rượu hoặc bị một xúc động mạnh. Tai biến não là một loại tổn thương nghiêm trọng mà nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc gây ra những di chứng nặng nề. Việc gián đoạn dòng máu lên não có thể do vỡ mạch máu não hoặc do sự hình thành một cục máu đông hoặc do xơ vữa làm thuyên tắc mạch máu não.

· Triệu chứng.
Các triệu chứng thường xảy ra đột ngột. Triệu chứng thần kinh xảy ra tương ứng với khu vực não không được cung cấp máu. Người bệnh có thể bị tê, yếu hoặc liệt hẳn ở một bên tay hoặc chân, đột nhiên giảm thị lực hoặc nói năng khó khăn, giảm khả năng phán đoán … Có thể nhức đầu hoặc không. Một số người có thể có một số dấu hiệu báo trước vài giờ hoặc vài ngày trước khi tai biến xảy ra. Dấu hiệu này có thể là buồn nôn, chóng mặt, tê bì một bên tay hay chân hoặc một thoáng mất ý thức. Để đơn giản và dễ nhớ cho tất cả mọi người, ở Mỹ người ta tóm tắt các triệu chứng của một người đang bị đột quỵ bằng 3 chữ STR. STR là 3 chữ cái đầu của 3 từ Smile (mỉm cười), Talk (nói) và Raise (nâng lên). Nhằm giảm thiểu tác hại của đột quỵ cũng như số người bị đột quỵ, mỗi người nên biết rõ STR và hãy xử lý cấp cứu hoặc chuyển viện ngay nếu nhận ra người bên cạnh mình đột nhiên có một trong 3 triệu chứng này:
· 1. Smile. Hãy thử mỉm cười. Người này không thể mỉm cười được.
· 2. Talk. Yêu cầu người đó nói một câu đơn giản, Ví dụ: Hôm nay trời đẹp. Người này không thể nói hoặc nói ngọng, nói không tròn tiếng.
· 3. Raise. Hãy nâng 2 cánh tay hoặc 2 bàn tay lên. Người này không thể nâng 2 cánh tay hoặc yếu hoặc liệt hẳn 1 bên.

· Nguyên nhân
Tai biến mạch não là một hội chứng thuộc phạm vi các chứng trúng phong của y học cổ truyền. Ở những người cao tuổi hoặc những người có khí chất suy yếu, chức năng các tạng Tâm , Can, Tỳ, Thận suy giảm, âm hư sinh đờm thấp. Tai biến sẽ xảy ra đột ngột khi người có cơ địa này gặp phải phong tà bên ngoài hoặc những cảm xúc âm tính kích động Can dương gây ra Can phong nội động từ bên trong. Phép chữa của Đông y thường phân ra chứng bế, chứng thoát, trúng phong kinh lạc hoặc trúng phong tạng phủ và tuỳ chứng mà điều trị bao gồm tức phong, thanh hoả, trừ đờm, khai khiếu nhằm giải toả chỗ ứ huyết và điều bổ cả khí lẫn huyết để đi đến cân bằng âm dương và tăng cường sức đề kháng để ổn định sức khoẻ về lâu dài.

· Xử lý cấp cứu
Trong các chứng tai biến về não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc di chuyển, xê dịch người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não thiếu dưỡng khí bị tổn thương không thể hồi phục được. Do đó, việc xử lý cấp cứu kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong việc phục hồi hoàn toàn tình trạng của người bệnh sau nầy. Phương pháp sau đây được phổ biến theo kinh nghiệm của ông Ha bu Jing, một Bác sĩ người Trung quốc. Đặc điểm của phương pháp là đơn giản, dễ nhớ, dễ làm, không bao gồm những phương huyệt phức tạp hoặc dụng cụ chuyên môn gì để mọi người đều có thể thực hành được ở bất cứ nơi đâu. Theo phương pháp nầy, mỗi khi nhận ra một người đang có dấu hiệu đột quỵ, dù người đó đang còn ngồi, đứng hay đã quỵ xuống, đã hôn mê hay còn ý thức, người bên cạnh hãy bình tĩnh và thực hành lần lượt các bước sau đây trước khi chuyển họ đến cơ sở chuyên môn cần thiết:
· 1. Đặt bệnh nhân nằm xuống nhẹ nhàng. Tránh tối đa việc xê dịch người bệnh để không làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết.
· 2. Tìm ngay một cây kim khâu. Hơ đầu kim vào lửa để sát trùng.
· 3. Lần lượt chích lễ 10 đầu ngón tay của người bệnh. Dùng bàn tay trái giữ lấy lóng cuối chỗ gần đầu ngón tay của người bệnh, dùng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay phải cầm kim chích nhanh vào chỗ cao nhất của đầu ngón tay. Rút kim ra và nặn nhẹ từ chỗ đã chích ra một hay hai giọt máu. Những đầu ngón tay là vị trí của Thập tuyên huyệt, nơi tập trung nhiều đầu dây thần kinh rất nhạy cảm. Theo thuyết phản xạ thần kinh cũng như thuyết toàn đồ, đầu ngón tay tương ứng với phần đầu của cơ thể và đỉnh nhọn của ngón tay ứng với huyệt Bách hội ở đỉnh đầu. Ngoài ra, động tác chích lễ lại có tính “tả” và kích thích rất mạnh. Do đó, có thể nói chích lể các đầu ngón tay là biện pháp đặc hiệu để kích thích tĩnh thần và khu phong hoá ứ ở khu vực đầu cũng như nảo bộ. Động tác nầy vừa có thể ngăn chận hoặc phục hồi não từ tình trạng hôn mê lại vừa có thể loại bỏ tức thời yếu tố “phong”, nguyên nhân trực tiếp gây ra tai biến. Mặt khác, tác động vào các đầu ngón tay cũng là gián tiếp tác động vào huyệt Bách hội nên có ý nghĩa kích hoạt sự thăng giáng cúa các đường kinh dẫn đến thông kinh hoạt lạc, tiêu trệ hoá ứ, giúp giải quyết việc ứ huyết và điều hoà kinh khí toàn thân.
· Đợi vài phút sau người bệnh sẽ tĩnh lại.
· Nếu miệng hoặc mắt người bệnh còn méo lệch sang một bên hãy dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của 2 bàn tay vuốt cùng lúc cả 2 vành tay của người bệnh. Vuốt từ trên xuống dưới. Vuốt nhẹ và vuốt liên tục nhiều lần cho đến khi 2 vành tay hồng đỏ lên..
· Dùng bàn tay trái bóp nhẹ vào phần trên của vành tai người bệnh và chích vào chỗ cao nhất của vành tai (huyệt Nhĩ tiêm). Nặn ra một vài giọt máu.
Đến đây chúng ta có thể an tâm chuyển người bệnh đến cơ sở chuyên môn để được kiếm soát và chăm sóc các bước tiếp theo cho việc ổn định sức khoẻ lâu dài. Hầu hết các trường hợp tai biến não được xử lý cấp cứu kịp thời theo phương pháp nầy đều trở lại bình thường. Vấn đề còn lại là tuân thủ một chế độ sinh hoạt, ăn uống và luyện tập hợp lý để tăng cường sức đề kháng và kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể gây ra đột quỵ như cao huyết áp, cholesterol máu cao, béo phì, tiểu đường . .

· Điều trị di chứng tai biến mạch não
Trên thực tế nhiều trường hợp tai biến mạch não đã trải qua đột quỵ nhiều giờ hoặc nhiều ngày, đã được điều trị và để lại di chứng. Trong những trường hợp này việc điều trị bằng Đông y kết hợp giữa châm cứu và dùng thuốc qua đối chứng lập phương có kết quả rất tích cực. Tuy nhiên, phạm vi bài này sẽ chỉ đề cập đến 2 bài thuốc kinh nghiệm đặc trị đột quỵ với cùng một vị thuốc chủ lực. Đó là vị Địa long tức Giun đất. Địa long là một vị thuốc đã được xữ dụng trong y học dân gian từ lâu đời. Địa long có vị mặn, tính hàn, vào 3 kinh Can, Tỳ , Thận, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc. Đặc biệt là tác dụng trấn kinh, làm tan ứ huyết, cải thiện độ đàn hồi của mạch máu, nuôi dưỡng tế bào thần kinh và phục hồi trí nhớ trong các chứng hôn mê do tai biến mạch nảo. Từ năm 1911 các nhà khoa học Nhật bản đã tìm thấy trong Địa long có hoạt chất Lumbritin có tác dụng phá huyết ứ. Gần đây tại nước ta, Tiến sĩ Nguyễn thị Ngọc Dao cũng đã công bố nghiên cứu về loài giun quế và cho biết trong các loài giun có chất enzym fibrinolytic có khả năng thuỷ phân rất mạnh các sợi fibrin -một loại protein trong máu- để làm tan các cục máu đông trong các chứng tai biến não. Sau đây là 2 bài thuốc đặc trị di chứng tai biến não có sử dụng Địa long.

Thần dược cứu mệnh
Toa thuốc và tên bài thuốc này xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ trước, được in lại trong quyển sách “Hai trăm bài thuốc quý” của ông Lê văn Tình vào năm 1940 với ghi chú là “chủ trị làm ban, ôn dịch và các bệnh nan y, công hiệu như thần, bệnh lui sau 60 phút”. Sau này, bài thuốc đã được ông Nguyễn An Định, trưởng nam của cụ Nguyễn An Ninh cho phổ biến lại trên một số tờ báo. Bài thuốc cũng đã được Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y Tế cho phổ biến để sử dụng hữu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969. Cho đến nay bài thuốc đơn giản này đã cứu chữa và phục hồi cho rất nhiều trường hợp hôn mê do đột quỵ dù đã nhiều ngày trôi qua. Trong một tài liệu được phổ biến vào năm 1997, ông Định cho biết “các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch não chưa quá 10 ngày chỉ cần 3 thang, có khi chỉ 1 thang cũng hết bệnh”.

Bài thuốc nguyên thuỷ gồm 3 vị:
· Địa long 50g (địa long phơi khô có bán sẵn ở các tiệm thuốc Bắc).
· Đậu đen 100g.
· Lá bồ ngót 200g (phơi khô, sao vàng).
Dùng khoảng 4 chén nước sắc còn độ hơn nửa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống hoặc đổ vào miệng nếu đã bất tỉnh. Trong bài thuốc nầy ngoài Địa long còn có 2 vị đậu đen và lá bồ ngót. Đậu đen và bồ ngót là 2 loại thức ăn có giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt là những sinh tố và những acid amin thiết yếu cần thiết cho hoạt động của tế bào thần kinh.

Bổ dương hoàn ngũ thang
Bổ dương hoàn ngũ thang là một cổ phương chuyên trị các chứng trúng phong, tai biến mạch não.
- Địa long 8g - Hoàng kỳ 16g - Đương quy vỉ 8g - Xích thược 6g
- Xuyên khung 4g - Đào nhân 4g - Hồng hoa 4g
Dùng khoảng 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống. Trong bài thuốc này liều lượng của Địa long chỉ trung bình nhưng lại được sự phối hợp của 5 vị thuốc quen thuộc khác có tác dụng hành khí hoạt huyết để tạo nên kết quả làm tan máu ứ và khai thông kinh mạch. Hoàng kỳ là một vị thuốc bổ khí, cố biễu được dùng với liều lượng chủ đạo nhằm tăng cường chính khí. Ngoài ra, ở đây Hoàng kỳ còn có một số tác dụng hữu ích khác như lợi tiểu, hạ huyết áp và tăng cường sức bền của mạch máu.

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

BÀI THUỐC CHỐNG ĐỘT QUỴ

1. Đào nhân: 10g
2. Hạnh nhân: 10g
3. Chi tử: 10g
4. Hạt nếp cái: 10 hạt (nguyên hạt)
5. Hạt tiêu sọ: 10 hạt
6. Trứng gà: 1 quả

Trước khi đi ngủ cho 5 loại hạt trên vào cỗi giã nhuyễn (không xay). Giã hỗn hợp thật nhuyễn xong trộn với lòng trắng trứng gà (không được lẫn một tý lòng đỏ nào). Bọc hỗn hợp trên vào mảnh vải rồi đắp vào chỗ lõm gan bàn chân (trai chân trái, gái chân phải) giữ thuốc không để rơi ra ngoài, cuộn chặt một đêm, sáng hôm sau cởi bỏ thuốc, không rửa chân cả ngày hôm đó. Chân càng tím nhiều càng tốt.

Bài thuốc này chỉ làm một lần, giúp sau này khỏi bị tai biến hay đột quỵ.
(Bài do chị Nguyễn Hoàng Vân sưu tầm)

Thứ Hai, 3 tháng 5, 2010

THUỐC AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN

Gần đây có nhiều người muốn biết cách sử dụng thuốc An cung lưu hoàng hoàn. Tôi đưa lên mạng tác dụng và cách sử dụng loại thuốc này để mọi người tham khảo.

Tên dược phẩm: An cung ngưu hoàng hoàn (dịch theo đơn thuốc trong vỏ hộp)
Thành phần: Ngưu hoàng, bột thủy ngưu giác, trân châu, hung hoàng, hoàng liên, hoàng linh, quý tử, đỗ kim

Công năng chủ trị: Thanh nhiệt giải độc, trúng gió hôn mê, viêm não, viêm màng não, bệnh não trúng độc, xuất huyết não, trị chứng bại huyết.

Liều lượng: - 1 lần 1 viên, 1 ngày 1 lần,
- trẻ em dưới 3 tuổi 1 lần ¼ viên,
- trẻ em 4 đến 1 tuổi đến 6 tuổi uống 1 lần ½ viên, 1 ngày 1 lần
- hoặc uống theo hướng dẫn của bác sỹ
Thận trọng: - Phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai
- Trước khi uống phải bóc phần vỏ nhựa và sáp nến
- Không được nuốt cả viên
Quy cách; mỗi viên 3g
Cất giữ: đóng gói
Hạn sử dụng : 5 năm
Thông tin tìm trên mạng về thuốc Ngưu hoàng hoàn
Hãng sản xuất: BEIJING TONG REN TANG- CHINA
Chủ trị tai biến mạch máu não ( Đột quỵ)
Giá: 850.000 đ/ viên

Đột qụy hay còn gọi là tai biến mạch máu não có nhiều nguyên nhân gây ra như cao huyết áp, huyết áp thấp, vữa xơ động mạch...Đông y gọi căn bệnh này là trúng phong, thốt trúng...Bệnh nhân bị đột quy thường có tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao. Cấp cứu và điều trị đột quỵ là một vấn đề không đơn giản, và rất khó tiên lượng.

Trong vài năm gần đây, ở Việt Nam những người bị trúng phong (đột quỵ) thường được gia đình và các thầy thuốc cho dùng viên An cung ngưu hoàng hoàn (AC) của Trung Quốc để cấp cứu và điều trị. Tôi cũng đã chứng kiến một bệnh nhân bị đột quỵ do cao huyết áp điều trị tại Trung tâm đột quỵ BVTƯQĐ 108 năm 2007. Tình trạng bệnh nhân rất nặng nề do chảy máu não. Theo đánh giá của BS điều trị là “đã mất 70% não nên khó tiên lượng”. Trước đó bệnh nhân đã được gia đình cho dùng 3 viên AC kết hợp với các thuốc của BV, tình trạng chuyển biến tốt rõ rệt. Bệnh nhân ra viện, hồi phục sức khỏe tốt, hiện còn sống, không bị liệt chỉ nói không rõ câu. Sau khi ra viện, bệnh nhân được phục hồi bằng phương pháp cấy chỉ tại Trung tâm cấy chỉ – phục hồi chức năng 12B Lý Nam Đế HN, đã nói tốt hơn trước. Một số người đã dùng AC trong cấp cứu và điều trị đều thu được kết quả tốt.

Theo bản giới thiệu của Đồng Nhân Đường Bắc Kinh, thì An cung ngưu hoàng hoàn do danh y Ngô Cúc Thông thời Thanh sáng lập trên cơ sở kế thừa cổ phương. Phương thuốc có mùi thơm, có tác dụng khai khiếu trừ đàm, giải độc, bảo vệ thận, an thần và thông phổi...

An cung Ngưu hoàng hoàn là thuốc cấp cứu Đông y truyền thống, được dùng cấp cứu và điều trị đột quỵ (Trúng gió, bán thân bất toại, miệng mắt méo xệch, đờm dãi lấp chặt cổ họng, suyễn thở (thở khò khè)…Dùng cấp cứu cho các trường hợp ý thức bị trở ngại, trẻ viêm phổi nặng, ngất do nhiệt độ cao, tiêu chảy do trúng độc, trí não kém phát triển,... đi kèm với các biểu hiện nguy hiểm như sốt cao, hôn mê, co giật...

Lưu ý: Các sách nêu phương thuốc trên đều lưu ý là không dùng cho phụ nữ có thai.
An cung Ngưu hoàng hoàn của Bắc Kinh Đồng nhân đường được bào chế dưới dạng thuốc hoàn.

Cách dùng:
Nếu người bệnh còn tỉnh táo: Ngậm nuốt nước dần
Nếu bệnh nhân không tỉnh táo, tri giác mù mờ: Nên hòa với nước cho uống dần.
Nếu bệnh nhân hôn mê: Cho uống thuốc qua sond (ống thông nuôi dưỡng được đặt vào dạ dày), thậm chí có thể thụt qua đường hậu môn.

Liều dùng:
Người lớn ngày 1 viên. Bệnh nặng có thể ngày 2 - 3 viên chia 2 - 3 lần.
Đợt điều trị 3 - 5 ngày.
Cách phối hợp với các thuốc Tây y: Trong điều trị, vẫn có thể kết hợp AC với các thuốc Tây y theo chỉ định của thầy thuốc. Chỉ lưu ý là nên dùng cách xa hai loại thuốc AC và thuốc Tây y khoảng thời gian 30 – 60 phút để tránh tương tác giữa các thuốc.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

RƯỢU HẠT GẤC


Trăm hạt gấc nướng cháy vàng

Rượu ngâm nửa lít thành thang thuốc thần

Không may bầm dập tay chân

Bóp xoa lên đó mươi lần hết sưng

Viêm xoang – viêm họng – lợi mưng

Mười phân khối rượu ngậm chừng trăm giây

Khò oo – khò oo trong miệng mươi ngày

Bệnh trên dìu dịu đỡ ngay ấy mà

Mong rằng các vị dùng qua

Rượu này hiệu nghiệm như là thuốc tiên

Bệnh lành mà chẳng mất tiền.


Tờ Sức khỏe số 93 nói về vitamin A trong gấc, số 112 trang 23 giới thiệu về hạt gấc ngâm rượu xoa nơi đau. Nhiều tài liệu giới thiệu hạt gấc có độc nhưng không cao, thường được dùng làm thuốc bôi ngoài, có dùng làm bột bôi trong họng nhưng là lượng thuốc không nhiều nên không gây độc.


Sách ứng dụng lâm sàng, hạt gấc có tác dụng giảm đau tiêu sưng, tiêu viêm.

- Trị ung sang viêm: Hạt gấc tán bột mịn hòa với dấm đắp lên nơi đau.

- Nhức răng: Dùng bột mịn hòa với dấm tẩm bông cho vào chỗ răng đau là hết.

- Trị viêm hầu họng cấp: Dùng bài thuốc cổ phương MỘC MIẾT TÁN

Hạt gấc 12g

Sơn đậu căn 8g

Mộc hương 8g

3 vị trên tán thành bột mịn chấm vào họng sẽ khỏi. Sơn đậu căn, mộc hương mua ở hiệu thuốc dân tộc.

- Hạt gấc đốt cháy hòa với dầu ép từ lạc bôi lên chỗ đau sưng. Quai bị vài lần sẽ khỏi.


(NST – CLB)