Có một nơi mọi người đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi, gặp nhau mỗi tuần một lần, hàng tháng cùng nhau đi dã ngoại để luyện tập, để cười vui, để chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Đó là chính là Câu lạc bộ Dưỡng sinh Năng lượng thuộc chi hội y học Esperanto - Hà Nội của chúng tôi. "Vui, khỏe, sống có ích cho đời" là mục tiêu của Câu lạc bộ chúng tôi.
Đề nghị ghi rõ nguồn http://luatamuoi.com/ khi sao chép những bài viết chia sẻ từ trang Câu lạc bộ DSNL.
Mọi liên hệ xin gửi về một trong 3 địa chỉ ở mục LIÊN HỆ. Xin trân trọng cảm ơn."

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Trao đổi năng lượng (phần 1)

Quá trình thải âm, thải dương, thu âm, thu dương quá trình trung chuyển năng lượng vũ trụ xuyên qua thân thể ta theo nhiều chiều là quá trình hội nhập cơ thể với vũ trụ, quần áo ta mặc phải nhẹ nhàng, thấm được mồ hôi không cần thắt lưng, khi ngồi nghỉ nên tháo giày ra đặt chân xuống đất, khi ta vào một khu vườn đẹp thì thưởng thức trò chuyện với nó bằng cách tiếp nhận năng lượng yêu thương từ vườn cây tỏa ra. Khi đi qua một bãi khói bụi thì cơ thể đóng cửa lại, không thu hút, nhịn thở, chuyển cơ thể vào trạng thái đóng cửa.
Trạng thái đóng cửa: khi cơ thể không thích nghi với không gian bên ngoài nếu là quãng đường nhiều bụi thì ta có thể nhịn thở một thời gian và đưa cơ thể vào trạng thái tĩnh của luyện công không vận hành cơ thể, động tác đó như sau: hít một hơi dài , từ từ thở ra khi đến đám bụi, nhịn thở để đi thêm một quãng đường nữa qua đám bụi. Trạng thái này cũng như một vi khuẩn không gian chúng co lại nhỏ bé và nhẹ nhàng, mảnh như một hạt bụi gần như vô hình và không có hoạt động sống chúng lơ lửng trong môi trường khắc nghiệt nhiều năm liền cho đến lúc không gian bên ngoài thích nghi thì chúng sống lại. Chính chúng ta cũng cần học hỏi phương pháp đó. Cơ thể vận khí đến gần với thể Plasma sẽ tạo ra một thực thể cực kỳ thống nhất để mở ra hoặc thu vào, để liên lạc với vũ trụ bởi vì một cơ thể bình thường không bao giờ thích nghi với vũ trụ được.
Vũ trụ phần lớn là vô tình cho nên những động vật có vú, ví như con người rất khó sống trong đó. Càng muốn thích nghi càng phải hòa nhập phải đưa được ta thành một cái cây, hòn đá, cái cây sống ngàn năm hòn đá sống triệu năm. Vậy thì bản chất của ta, linh hồn của ta phải được tiệm cận với trường tồn, phải im lặng như một cây cổ thụ, phải ẩn mình như một hòn đá. Như vậy là ta phải hòa nhập thật sự với vũ trụ và cần một sự tiến hóa trong sự xung đối giữa trí thông minh và yêu cầu cuộc sống vì tương lai. Con người lúc đó chỉ là một đám sương mù, hình hài người chẳng qua là cố tình nhớ lại nguồn gốc tươi đẹp của mình. Phương pháp hòa nhập vũ trụ phải tập trong vòng từ 1 – 3 năm. Đó là thời gian tuyệt đẹp để cơ thể ta tiếp đất tiếp trời lấy năng lượng không gian tẩy năng lượng xấu của cơ thể bù đắp liên tục, liên tục để tạo ra dòng năng lượng tái sinh vĩnh cửu cho cơ thể. Từ đó chúng ta có thể chữa bệnh cho bệnh nhân mà không sợ bị ảnh hưởng bệnh. Hòa nhập vũ trụ cũng là một biện pháp huy động toàn năng nghĩa là trong xả âm cùng Đại Châu Thiên (cửu âm), xả dương cùng Tiểu Châu Thiên (cửu dương), hoạt động năng lượng tiến hóa nhất gọi là huy động toàn năng.
Trong khi ta dùng cửu dương tức Tiểu Châu Thiên trị bệnh (bệnh nhân bị hàn âm nguy hiểm) thì ta đồng thời nạp năng lượng vũ trụ vào đầu mình và cho năng lượng đó vận theo Tiểu Châu Thiên. Lúc đó giữa ta và người bệnh có một đối lưu khí, khí khỏe và thông minh sẽ đẩy vào bệnh nhân và khí bệnh sẽ chảy ngược vào ta và hòa nhập vào Tiểu Châu Thiên (cửu dương kinh). Như vậy, hiện tượng đó gọi là huy động toàn năng.
Khi một cơ thể người biết huy động toàn năng thì bất cứ khi nào vận Tiểu Châu Thiên – Đại Châu Thiên hoặc xả âm, xả dương, thì cơ thể đó bắt đầu sinh ra nhịp điệu năng lượng toàn năng. Càng vận hành nhiều càng rơi vào hệ vô thức thể thực vật nghĩa là trong cơ thể sống hàng ngày luôn luôn là huy động toàn năng.
Trong huy động toàn năng trí tuệ sẽ được tiến hóa vô song. Sự tiến lên tiệm cận thể Plasma đưa cơ thể ta thành một bào tử rất thống nhất, nhỏ bé. Quá trình luyện tập lâu dài sẽ đưa ta ngược lại thời gian. Anh có thể mãi mãi dừng lại ở lứa tuổi đó nhưng linh hồn anh sức mạnh anh càng trẻ lại theo một thời gian nhỏ bé lại như thời còn là trẻ con và nhỏ lại nữa như là một cặp tế bào bố mẹ thời kỳ sơ khai của một bào thai.
Trong quá trình huy động toàn năng ta phải luôn hồi tưởng về quá khứ tuổi thơ, tách dĩ vãng khỏi ý nghĩ, sự luyện tập lâu dài trong vô tư (vô vị) tạo ra cho ta một bản ngã độc lập không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Ban đầu ta có thể xem giờ khi vận công dần dần ta quên việc xem giờ cũng như trong các công việc làm hàng ngày ta quên xem giờ. Điều đó ảnh hưởng tốt đến quá trình lãng quên những sự việc không cần thiết cho tương lai của chính bản thân chúng ta, không cho những dĩ vãng xấu quay lại dày vò tư tưởng và lương tâm con người.
Tâm trạng vô vi là một định hướng hoàn hảo của con người trong xã hội hiện đại ngày nay. Những điều gì không cần thiết thì loại bỏ qua một bên, chỉ nên tập trung vào những việc cần thiết mà thôi. Trong lúc luyện công thì ta hoàn toàn vắng lặng, tuy nhiên vận công là một quá trình định hướng năng lượng chảy trong cơ thể, quá trình tiêu hao năng lượng, quá trình thu năng lượng từ bên ngoài vào, quá trình ngôn ngữ tuyệt đối giúp cho tất cả các quá trình năng lượng có định hướng, quá trình ngôn ngữ có tính chất như những câu hỏi hoặc câu trả lời ám thị cho chúng ta hoặc ám thị cho bệnh nhân để chính ta hoặc bệnh nhân suy nghĩ về vị trí chữa bệnh và phương thức chữa bệnh đó.
Một bác sỹ giỏi về bệnh tim sẽ giỏi hơn gấp bội nếu thông thạo Khí Công Tâm Trí Niệm Pháp, công cuộc chữa bệnh tốt nhất là nên dùng ít thuốc, tuy nhiên dùng khí công chữa bệnh tim của bác sỹ tim thì sẽ có kết quả tốt bởi vì vị bác sỹ một mặt truyền khí tốt đến khu vực cần chữa bệnh, nhận khí bệnh để đồng hóa lại thành tốt và đọc các phương pháp chữa bệnh ngắn gọn giống như thủ thuật ám thị làm cho bệnh nhân tin tưởng và mở rộng buông thả cảm giác chống đối của cơ thể từ đó phép màu sẽ tới mau thậm chí được như ý muốn của bác sỹ lẫn bệnh nhân.
Trong không gian vô vi vô tận chứa đựng tất cả những gì con người đã biết, tưởng tượng ra và chưa tưởng tượng ra.
Nhà khí công siêu đẳng là người có độ trong sáng nhất của linh cảm, họ có ít các suy tư gọi là xấu xa, từ họ toát ra tính biện minh của logic sống hòa nhập dễ dàng với các đối tác tiếp xúc. Trường năng lượng thông tin hòa quyện với đối tác bắt tay nhau, thấu hiểu nhau và hòa đồng lại như một trường kép thống nhất. Vì vậy, nhà khí công đọc được tư duy của đối tác trong các công việc chữa bệnh, làm quen giúp đỡ lẫn nhau, yêu thương nhau hoặc cùng nhau ký kết các hợp đồng kinh tế mà hai bên cùng có lợi.
Thông thường những người luyện được tâm đạo sâu lắng thì cuộc sống ung dung, tâm hồn vô vi và vì vậy khi gặp rắc rối trong cuộc sống hằng ngày người đó sẽ vượt qua bằng những giải pháp tình thế thông minh nhanh gọn, nhiều người như vậy sẽ tạo ra một xã hội uyển chuyển thấu hiểu nhưng rất đúng đắn trừng phạt những cá nhân giám chống lại những điều tốt đẹp.
Vô vi là một không gian không tưởng, không biết về thể tích và thời gian, không có khái niệm cực nhỏ và cực lớn. Nằm trong vô vi là vũ trụ, nằm trong vũ trụ là vô vi. Vô vi là một không gian được định hướng. Trước khi chúng ta định làm gì đó thì vô vi đã có rồi. Tuy nhiên, sau khi chúng ta luyện Khí Công Tâm Trí Niệm Pháp thì chúng ta mới cảm nhận được sự hiện diện của vô vi, nhưng vô vi không là trạng thái không tuyệt đối vì có vô vi thì mới có định hướng vũ trụ, mới có định hướng tổng thể bức tranh không gian vũ trụ và các mối liên quan giữa hàng trăm nguyên tố và các quy luật của nó. Các hạt, các bức xạ và các vật thể vũ trụ sinh tồn và huỷ diệt. Tuy nhiên, vô vi là không thời gian và là vĩnh cửu. Vô vi vì vậy là đối trọng của ta trong sự sáng tạo vô biên ở cuộc sống và làm việc của chúng ta, nếu ta nằm trong vô vi thì ta trường tồn mãi mãi.
(Còn tiếp)
(Người sưu tầm: Nguyễn Hoàng Vân. Nguồn: Cánh cửa trường sinh - Đặng Công Huấn)

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2010

TỊNH TU BA NGHIỆP

Tham, sân, tà kiến thuộc ý nghiệp. Nói hư dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác thuộc khẩu nghiệp. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục thuộc thân nghiệp.
Phàm người có chí muốn cầu đại đạo, trước tiên cần phải tu ba nghiệp cho thanh tịnh. Về sau, trong bốn oai nghi lần lượt vào đạo, nhẫn đến khi sáu căn đối trần tùy duyên liễu đạt, cả hai cảnh trí đều lặng thầm hợp với ý chỉ diệu huyền.
A.- Thế nào là tịnh tu thân nghiệp?
Tự xét sâu xa trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, kềm thúc ba tội không cho sơ thất. Từ bi nuôi nấng chẳng hại mạng sống, tất cả loài hàm thức trên không dưới nước, không kể lớn nhỏ đều thương yêu bảo bọc cho đến loài bò bay máy cựa cũng không làm tổn hại. Gặp kẻ nguy nan ân cần cứu tế, dùng phương tiện độ khiến cho giải thoát. Đối với tiền bạc của cải người khác không cho thì không lấy, nhẫn đến vật của quỉ thần làm chủ, dù là cây kim ngọn cỏ vẫn không cố phạm. Gặp người ăn xin nghèo khó, tùy theo tiền của mình có, dùng lòng cung kính bố thí khiến cho họ được an ổn, còn mình không cầu sự báo ơn. Suy nghĩ như vầy: Chư Phật quá khứ trải vô lượng kiếp, thực hành bố thí cho cả voi ngựa bảy báu, đầu mắt não tủy nhẫn đến xả bỏ thân mạng, không chút nuối tiếc. Nay ta cũng vậy, tùy theo khả năng bố thí, hoan hỉ cúng dường, tâm không lẫn tiếc. Đối với nữ sắc tâm không nhiễm trước. Phàm phu điên đảo bị dục làm say, đam mê phóng túng, không biết lỗi lầm của sự dâm dục, như vin cành hoa không biết có ẩn rắn độc. Người trí xem dục như miệng rắn độc, móng vuốt gấu hùm, lửa bùng sắt nóng cũng chẳng dụ được. Cột đồng giường sắt cháy lưng chín ruột, máu thịt bầy nhầy, đau thấu tâm tủy. Quán sát như thế chỉ khổ không vui. Túi da đựng phẩn tích chứa máu mủ, bề ngoài giả dối giồi phấn thoa hương, bên trong một mùi hôi thúi, dơ bẩn chảy ra làm chỗ nương ở của dòi nhặng, thúi tha đến lỗ cầu xí cũng không bì kịp. Người trí xét đó, chỉ thấy lông tóc, móng răng, da mỏng da dày, máu thịt, mồ hôi nước mắt, nước dãi, nước miếng, mủ mỡ, gân mạch não mô, đàm vàng đàm trắng, gan mật cốt tủy, phổi thận, lá lách, dạ dày, tim, mỡ nước, bàng quang, ruột già ruột non, sanh tạng thục tạng, các đường tiểu tiện. Những vật như thế đều không có Ngã, mà do gió thức cổ động hư vọng sanh ra, ngôn ngữ dối trá, nói làm người bạn thân, kỳ thật oán giận ghét ghen làm cho hư đức chướng đạo, đó là tội lỗi nặng nhất phải nên xa lìa như tránh giặc oán. Bởi thế, người trí xem đó tưởng như rắn độc, thà gần rắn độc, chẳng gần nữ sắc. Vì sao? Rắn độc hại người chỉ chết một đời, nữ sắc trói buộc trăm ngàn muôn kiếp bị các độc hại khổ đau vô cùng, phải nên xét nghĩ chớ nên gần gũi.
Vì thế người trí cần phải kiểm điểm ba lỗi, chừa bỏ lỗi lầm, trái ác theo thiện: chẳng giết chẳng trộm, phóng sanh bố thí, không làm việc dâm dục bẩn thỉu, thường tu hạnh thanh tịnh. Ngày đêm chuyên cần hành đạo lễ bái, nương về Tam Bảo, chí cầu giải thoát, đối với thân mạng của cải phải tu ba pháp kiên cố. Biết thân hư huyễn không có Tự tánh, sắc tức là không cái gì là ngã? Tất cả các pháp chỉ có giả danh không có nhất định. Thân này của ta, bốn đại năm uẩn mỗi mỗi đều chẳng phải ngã, hợp lại cũng không, vô minh không rõ, chấp lầm là ngã. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục phóng túng, suốt ngày lẫn đêm không ngừng tạo nghiệp. Dù không chân thật nhưng thiện ác báo ứng vẫn như bóng tùy hình. Lúc quán như thế, chẳng cầu sự bất chánh để nuôi thân mạng, phải tự quán thân tưởng như rắn độc, vì để trị bệnh nên nhận bốn sự cúng dường(1). Thân mặc y phục như che ghẻ lở. Miệng ăn thức ngon như bệnh uống thuốc. Tiết kiệm thân miệng không sanh sự xa hoa thái quá, nghe nói ít muốn rất thích tu hành. Cho nên kinh nói: “Bậc đầu-đà ít muốn khéo biết vừa biết đủ, người ấy có thể vào đạo Hiền Thánh.” Vì sao? Chúng sanh ở trong đường ác(2) trải vô lượng kiếp thiếu thốn áo cơm, kêu la thảm thiết, đói lạnh khổ sở, xương da dính nhau. Nay ta tạm thiếu chút đỉnh chưa phải là khổ. Thế nên người trí quí pháp khinh thân, siêng năng cầu pháp chí đạo, đến thân mạng cũng chẳng đoái hoài, đây gọi là tịnh tu thân nghiệp.
B.- Thế nào là tịnh tu khẩu nghiệp?
Tự xét sâu xa bốn lỗi của miệng là căn bản sanh tử, tăng trưởng điều ác, che lấp muôn hạnh, gây chuyện thị phi. Thế nên, người trí muốn nhổ sạch gốc sanh tử, dứt trừ hư vọng, phải tu bốn như thật ngữ, đó là các lời ngay thẳng, dịu dàng, hòa hợp và như thật. Bốn thật ngữ này là hạnh của người trí. Vì sao? Lời ngay thẳng hay trừ lời thêu dệt, lời dịu dàng hay trừ lời hung ác, lời hòa hợp hay trừ lời hai lưỡi, lời như thật hay trừ lời hư dối.
Lời ngay thẳng có hai thứ: một là nói đúng pháp khiến cho người nghe tin hiểu rõ ràng, hai là nói đúng lý khiến cho người nghe trừ hết nghi lầm.
Lời dịu dàng cũng có hai: một là lời an ủi khiến cho người nghe vui vẻ gần gũi, hai là tiếng cung thương thanh nhã khiến cho người nghe yêu thích tu tập.
Lời hòa hợp cũng có hai: một là sự hòa hợp, nghĩa là thấy người đấu tranh, can gián khuyên nên xả bỏ, chẳng tự khen mình, trái lại nhún nhường kính vật; hai là lý hòa hợp, nghĩa là thấy người thối tâm Bồ-đề ân cần khuyên tấn, khéo léo phân biệt Bồ-đề phiền não, bình đẳng nhất tướng. Nếu tâm hành giả lui sụt thì dùng đức độ để vỗ về, siêng năng đến trước người ấy khéo nói về việc mê ngộ.
Lời đúng như thật cũng có hai thứ: một là sự thật, nghĩa là có thì nói có, không thì nói không, phải thì nói phải, quấy thì nói quấy; hai là lý thật, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Niết-bàn Như Lai thường trụ bất biến.
Thế nên người trí thực hành bốn thật ngữ ấy, quán sát chúng sanh nhiều kiếp đến nay vì bốn lỗi này làm cho điên đảo trôi chìm sanh tử khó được xuất ly. Nay ta muốn nhổ gốc rễ của nó, quan sát khẩu nghiệp kia do môi răng, tiếng vang của yết hầu cuống rốn, gió thức kích động phát ra tiếng nói. Do tâm làm nhân duyên sanh hai thứ hư thật khác nhau, thật thì lợi ích, hư thì tổn mất. Thật là khởi gốc lành, hư là sanh cội ác. Cội gốc thiện ác là do lời nói nơi cửa miệng, nói lời thiện là tứ chánh, nói lời ác là tứ tà. Tà thì bị khổ, chánh thì được vui. Thiện là duyên trợ đạo, ác là gốc hư đạo. Thế nên người chánh phải có tâm hộ trì việc chánh, dùng lời thật để lập thân, tụng kinh niệm Phật quán sát thật tướng của lời nói vốn không tồn tại, nói nín bình đẳng. Đấy gọi là tịnh tu khẩu nghiệp.
C.- Thế nào là tịnh tu ý nghiệp?
Do niệm tà làm nhân duyên hay sanh ra muôn điều ác. Nhờ chánh quán làm nhân duyên hay khởi lên vạn điều thiện. Cho nên kinh nói: “ba cõi không có pháp riêng, chỉ do nhất tâm tạo tác”, nên biết tâm là căn bản của vạn pháp vậy.
Thế nào là tà niệm? Vô minh chẳng rõ chấp lầm là ngã, ngã kiến kiên cố tham sân tà kiến chấp càn ngoại cảnh sanh ra các thứ đắm nhiễm. Nên kinh nói: “Nhân vì có ngã bèn có ngã sở. Nhân vì ngã sở khởi ra sáu mươi hai kiến chấp đoạn thường(3), chín mươi tám sử kiến tư(4) tương tục gây nên sanh tử luân hồi trong ba cõi chẳng thôi.” Phải biết tà niệm là gốc của các điều ác, thế nên người trí phải chế ngự mà không theo nó.
Thế nào là chánh quán? Ta người không khác, sắc tâm chẳng hai; Bồ-đề phiền não bản tánh không khác, sanh tử Niết-bàn bình đẳng nhất chiếu. Do đó, kinh nói: “Lìa ngã, ngã sở, quán pháp bình đẳng, ngã và Niết-bàn cả hai đều không.” Phải biết các pháp chỉ có danh tự. Cho nên kinh nói: “Cho đến Niết-bàn cũng chỉ có danh tự.” Lại nói: “Văn tự tánh ly, danh tự cũng không.” Vì sao? Pháp chẳng tự có tên, giả đặt tên để gọi pháp, pháp đã chẳng phải pháp, danh cũng chẳng phải danh, danh chẳng đúng với pháp, pháp chẳng đúng với danh, danh pháp không đúng, tất cả không tịch. Cho nên kinh nói: “Pháp không có danh tự vì ngôn ngữ dứt.” Thế nên diệu tướng thì bặt danh, chân danh thì chẳng phải tự. Vì sao? Vô vi tịch diệt vi diệu tột cùng bặt tướng lìa danh, đường tâm ngôn dứt. Phải biết đó là điểm quan yếu của sự về nguồn chánh quán. Vì thế người trí dùng chánh quán làm nhân duyên để muôn hoặc(5) đều trừ, cảnh trí đều quên, nguồn tâm thanh tịnh. Đấy gọi là tịnh tu ý nghiệp.
Các điều kể trên đây, trong bốn oai nghi lúc sáu căn đối với trần cảnh phải tùy duyên liễu đạt để theo thứ lớp mà vào đạo vậy.

"Bức họa đồng quê" độc đáo ở Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước rất nổi tiếng về du lịch, ở Nhật có rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng.Ai đã đến làng Inakadate, tỉnh Aomori, ắt hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tuyệt vời của các bức tranh trên các cánh đồng lúa rộng bao la. Không tin thì xem thử!




Người nông dân nơi đây đã sáng tạo ra những bức tranh tinh tế bằng cách cấy những loại lúa với màu sắc khác nhau để tạo thành những tác phẩm mang tính nghệ thuật.







Họ bắt đầu cấy lúa vào tháng 5 hàng năm và những bức tranh đẹp nhất là vào tháng 9.



Nhờ có những tác phẩm độc đáo này mà làng Inakadate đã trở thành nổi tiếng khắp thế giới.



Hàng năm có tới 15.000 du khách đến chiêm ngưỡng những bức tranh lộng lẫy này.



Chi phí cho ruộng lúa nghệ thuật này tốn tương đương 35.000 USD/ năm cho việc thuê đất, giống và chăm sóc.



Bức tranh của năm nay lớn bằng cả sân bóng, mô tả cuộc giao chiến giữa một chiến binh samurai và một chiến binh nhà sư (warrior monk).





Không phải tất cả đều thành công. Còn nhớ
năm 2003, cánh đồng với hình nàng Mona Lisa cuối cùng trông giống như nàng đang mang thai. Từ trên cao, Mona Lisa nhìn nhỏ gọn ở nửa trên nhưng phần bụng lại có vẻ to hơn.



Làng không thu phí du khách đến tham quan nhưng kêu gọi sự đóng góp tùy tâm của mỗi người. Năm ngoái, tổng số tiền ủng hộ khoảng 70.000 USD.



Bức tranh đầu tiên được thực hiện năm 1993, một bức tranh đơn giản về ngọn núi cạnh thửa ruộng với hai màu.








Đất nước mặt trời mọc rực rỡ và quyến rũ hơn khi anh đào nở. Thêm vào đó, nhờ sự sáng tạo và khéo léo của người nông dân mà du khách có cơ hội được chiêm ngưỡng những bức tranh tuyệt đẹp.
(Sưu tầm trên Yume - Nhandaica's blog)

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010

Lặn trong tăm tối (hay: lặn trong ánh sáng)

(sưu tầm trên mạng)
Tôi có một kỉ niệm đáng nhớ trong một lần đi lặn cùng với một người khiếm thị cách đây nhiều năm. Tôi gặp ông trên tàu và mặc dù chỉ mới quen biết nhau có vài tiếng nhưng ông đã làm thay đổi đời tôi mãi mãi.
Bị mù bẩm sinh, suốt cả cuộc đời ông chưa nhìn thấy dù chỉ là một tia sáng. Vào ngày sinh nhật lần thứ 65, món quà ông tự tặng cho mình là một suất học lặn với bình khí nén. Ông nói, ông vẫn luôn mơ đến một ngày được lặn xuống tận đáy biển, và vào cái phút giây đầu tiên tham gia lớp học này ông đã được nếm trải cái cảm giác bồng bềnh, tự do trong lòng đại dương.
Ông chưa từng đi đâu một mình và cũng chưa từng đến những chỗ nào có nước, ngoại trừ hồ bơi nhà mình, chứ đừng nói gì đến chuyện lặn xuống đáy biển.
Sau khi được cấp chứng chỉ lặn với bình khí nén, ông bắt đầu goi điện đến các công ty tổ chức lặn thám hiểm ở Florida nhưng tất cả những gì ông nhận được chỉ là sự hoài nghi, và những câu đại loại như: "Không đời nào!", "Mù hả?", "Ông đang đùa tôi đấy à?" hết lần này đến lần khác.
Cuối cùng, cũng có một thuyền trưởng tàu lặn đồng ý cho ông cùng đi. Và tôi đã có mặt trên con tàu đó chứng kiến ông khệ nệ khiêng đống đồ đạc của mình lên tàu. Nhìn thấy cảnh tượng một người đàn ông đi xuống bến tàu, một tay cầm gậy còn tay kia cầm một cái túi đồ lặn tự nó cũng là một điều khó tin rồi.
Trên con tàu lắc lư giữa biển, cũng giống như những người khác, ông mặc đồ lặn của mình vào. Một người định giúp ông nhưng ông nhẹ nhàng từ chối: "Không, không, tôi có thể tự làm được". Rồi ông đi lại phía lan can tàu, và nhảy xuống nước.
Tôi hình dung chắc ông cũng nếm trải cảm giác sợ hãi vì mất phương hướng khi ở dưới nước, vì suy cho cùng thì ông hoàn toàn không nhìn thấy gì cả. Làm sao ông biết được đường nào đi lên, đường nào đi xuống? Và làm sao mà biết được đàn cá ở hướng nào?
... Ông đưa hai bàn tay ra để cảm nhận từng đàn cá bơi lượn qua lại giữa các ngón tay. Có một con cá mú dài một mét rưỡi bơi nhanh về phía ông như thể nó muốn nói "Nào, hãy cùng đùa vui". Người thợ lặn mù dường như đang chào đón đàn cá, vuốt ve chúng như thể đang vuốt ve một chú chó cưng. Bằng đôi tay của mình, ông khám phá từng tảng đá, từng khe nứt mà ông chạm phải, không bỏ sót bất cứ thứ gì.
Ông quay trở lên đúng giờ trước khi hết dưỡng khí, tìm được cái thang và leo lên tàu, tự mình làm mọi việc như tất cả những người khác.
Tất cả mọi người trên tàu đều rì rầm khi nghe người đàn ông mù kể lại những gì mà ông "nhìn thấy". Ông vừa mỉm cười vừa kể "Các anh có thấy con cá bướm đó không? Và cả con cá thiên thần nữa? Chúng thật đẹp và duyên dáng làm sao … Rồi còn những tảng san hô khổng lồ tuyệt đẹp có những cái xúc tu nhỏ xíu. À, còn con cá mú đó nữa chứ, hay nó là con gì khác?”
Tôi đứng đó, kinh ngạc, người đàn ông này nhìn thấy nhiều thứ còn hơn cả tôi. Cuối cùng, một người trong đám thợ lặn thốt lên "Ông đâu có mù, ông chỉ lừa chúng tôi thôi". 
Ông nói "Không, tôi không mù, mặc dù mắt tôi chẳng nhìn thấy gì". Rồi ông bật cười.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được nụ cười đó. "Các anh không biết sao, ánh sáng phát ra từ trái tim của mỗi người".
(Ảnh: anh Croizon người Pháp, một VĐV bơi lội cụt 4 chi, đang có tham vọng bơi qua eo biển giữa Pháp và Anh.)

LUẬN VỀ TAM NGHIỆP

(3 nghiệp chướng)
Tóm lược các ý chánh của Ðức Huỳnh Giáo Chủ PGHH:
1. Thân-nghiệp - tội lỗi do thân xác gây ra. Thân-nghiệp sanh 3 điều ác:
(1) Sát-sanh (giết người, giết thú vật)
a. Người đối với người: giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hiềm, vì háo thắng…
b. Người đối với thú cầm sinh vật: giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích.
(2) Ðạo-tặc (bất lương vô đạo):
- không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.
- khoét vách đào tường, cướp giựt (cướp của và đoạt giựt tài sản của lương dân)
- sống ngoài vòng pháp luật, trốn chui trốn nhủi
(3) Tà-dâm (hiếp dâm, cưỡng dâm, gian dâm)
- giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó
- quan ỷ quyền cưỡng bức dân hèn
- gian phu dâm phụ
2. Khẩu-nghiệp - tội lỗi do miệng lưỡi gây ra. Khẩu-nghiệp sanh 4 điều ác:
(1) Lưỡng-thiệt (do miệng lưỡi gây ra)
- gây ra sự hiểu lầm nhau, bất hòa, hiềm khích
- gây ra những sự cãi vã, gây gổ sinh oán thù
- tạo ra những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh
- phá tan sự đoàn kết và tình thân yêu giữa nhân loại
(2) Ỷ-ngôn (ỷ quyền, ỷ thế, ỷ tiền, ỷ khôn)
- chủ ỷ quyền mắng nhiếc tôi tớ
- quan ỷ thế mắng chửi dân ngu
- kẻ giàu có ỷ tiền xài xể người nghèo
- kẻ xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt
- kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát
(3) Ác-khẩu (thề thốt, lỗ mãng, hăm he, chửi mắng tực tằn, trù rủa, kêu réo Phật Trời)
- Dùng những tiếng thề thốt, lỗ mãng, chửi mắng tục tằn
- Con chửi mẹ mắng cha, không kể luân thường hiếu thảo
- Mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn
- Hiếp đáp xóm chòm cô bác
- Chửi gió mắng mây, trù rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh, kêu réo Phật Trời
(4) Vọng-ngữ (thêm thừa huyễn hoặc, có nói không, không nói có)
- gây ra những sự bất công
- giấu giếm sự quấy, thêu thùa sự tốt
- đặt điều nói xấu, che đậy cái điều phải của người khác
- khoe khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn
3. Ý-nghiệp- tội lỗi do ý tưởng gây ra. Ý-nghiệp sanh 3 điều ác:
(1) Tham-lam (tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế)
- gây nên những thảm họa tầy trời: chiến tranh, cướp của giết người, hối lộ…
- làm cho nhân loại điêu linh
- làm cho con người đau buồn hận khổ
- cấu xé lẫn nhau, nồi da xáo thịt, tương sát tương tàn
(2) Sân-nộ (tánh nóng nảy)
- làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù nhau
- cuồng trí, mất tự chủ, dữ dằn bạo tợn
- chẳng còn nghĩ đến việc công bình, lẽ phải trái
(3) Mê-si (do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự suy nghĩ mà ra)
- không phân biệt được lẽ phải trái
- bo bo giữ thiển kiến sai lầm
- chẳng chịu nhìn nhận chân lý
- cả đời ngu muội
- chỉ biết tin bướng làm càn
Thơ (Tóm lược các ý chánh)
Tam-nghiệp
Thân-nghiệp
Thân ta chính nó hại ta,
Nghiệp mang vì nó gây ra ba điều:
Sát-sanh tội lỗi quá nhiều.
Lại còn Ðạo-tặc sanh điều bất lương.
Tà-dâm phá chuyện luân thường,
Hỡi ơi! Thân-nghiệp khó lường vậy sao?!
Khẩu-nghiệp
Lại thêm Khẩu-nghiệp sa vào,
Cũng do miệng lưỡi! Làm sao không phiền?
Bốn điều độc ác luân phiên,
Là do Lưỡng-thiệt đầu tiên tạo thành.
Ỷ-ngôn làm chuyện chẳng lành,
Còn thêm Ác-khẩu, thanh danh chẳng còn.
Thế rồi Vọng-ngữ tô son,
Nói lời huyễn hoặc, soi mòn người ta.
Ý-nghiệp
Tội do Ý-nghiệp mà ra,
Ba điều nên tránh để mà giữ thân.
Tham-lam là tội rất gần,
Tham quyền, tham thế… khiến thân mệt nhừ.
Lại thêm Sân-nộ tính hư,
Dữ dằn, mất trí, từ từ giết nhau…
Mê-si thiếu óc tự hào,
Chẳng phân biệt được lẽ nào đúng sai!
(Ðức Phố, 28-01-2005)
Vĩnh Liêm

Thân-Nghiệp
Thân gây tội lỗi cho ta,
Nếu không tu sửa, tới già còn mang.
Sát-sanh là tội giết càn,
Mạng người, cầm thú.. vô vàn khổ đau!
Giết nhau vì lợi, tham giàu,
Tị hiềm, háo thắng, thù nhau, vì tiền…
Bất lương Ðạo-tặc rất phiền,
Không làm mà muốn có tiền xài chơi.
Ðào tường, cướp giựt của người,
Ngoài vòng pháp luật, cả đời trốn chui…
Tà-dâm mới thật hổ ngươi,
Cậy quyền, ỷ thế, hiếp người, cưỡng dâm.
Gian phu dâm phụ ăn nằm,
Mặc ai đau khổ, tà-dâm chẳng chừa…
Ðó là Thân-nghiệp có thừa,
Hãy nên bắt chước gương xưa mà từ.
(Ðức Phố, 28-01-2005)
Vĩnh Liêm
Khẩu-nghiệp
Lưỡi ta gây khổ cho ta,
Miệng càng nói xấu sanh ra hiểu lầm.
Ác do Lưỡng-thiệt nhiều năm,
Gây ra hiềm khích, tình thâm chia lìa.
Oán thù, cãi vã, rẽ chia,
Phá tan đoàn kết, mai kia bất hòa…
Ỷ-ngôn - lời nói điêu ngoa,
Cậy quyền, ỷ thế nói xa nói gần.
Ỷ khôn chửi mắng người dân,
Ỷ giàu xài xể người bần cố nông…
Lại thêm Ác-khẩu nằm lòng,
Chửi cha mắng mẹ, cũng không nể Trời.
Thánh Thần kêu réo đả đời,
Tục tằn, lỗ mãng, dùng lời hăm he…
Lại thêm Vọng-ngữ đậy che,
Ðặt điều nói xấu, tự khoe khoang mình.
Gây ra những sự bất bình,
Thêm thừa, huyễn hoặc, trá hình, đa ngôn…
Tạo chi Khẩu-nghiệp xảo ngôn!
Dùng lời chơn thật để còn sống lâu.
(Ðức Phố, 28-01-2005)
Vĩnh Liêm
Ý-nghiệp
Nghiệp do ý tưởng mà ra,
Nó gây tội lỗi, thân ta mang vào.
Tham-lam gây cảnh buồn đau,
Làm cho cấu xé lẫn nhau, tương tàn…
Chiến tranh, khổ hận, lầm than,
Nồi da xáo thịt, vô vàn điêu linh…
Sân-nộ tánh nóng của mình,
Nếu không tu sửa tính tình cuồng say.
Gây ra thù oán hàng ngày,
Bất công, sái phép, đọa đày thân ta…
Mê-si do óc mà ra,
Không phân biệt được điều tà, lẽ ngay.
Cả đời ngu muội, đắng cay,
Bo bo thiển cận, ai ai cũng phiền…
Ðó là Ý-nghiệp triền miên,
Phải nên xa lánh, tu hiền sửa thân,

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

Bạn là người giàu có? Tại sao?

Chàng thanh niên nọ lúc nào cũng than vãn số mình không tốt, không thể nào giàu có được. Một ngày, một ông lão đi qua, nhìn thấy vẻ mặt ủ ê của anh bèn hỏi:
- Chàng trai, sao trông cậu buồn thế, có việc gì không vui à?
- Cháu không hiểu tại sao cháu làm việc chăm chỉ, vất vả mà vẫn nghèo. Chàng trai buồn bã nói:
- Nghèo ư, cháu là một người giàu có đấy chứ!
- Chưa ai nói với cháu như vậy cả, cháu rất nghèo.
- -Giá như ta chặt một ngón tay cái của cháu, ta trả cháu 3 đồng vàng, cháu có đồng ý không?
- Không ạ.
- Giá như ta chặt của cháu một bàn tay, ta trả cháu 30 đồng vàng, cháu đồng ý không?
- Không bao giờ.
- Vậy ta muốn lấy đi đôi mắt của cháu, ta trả cháu 300 đồng vàng, cháu thấy thế nào?
- Cũng không được.
- Vậy, ta trả cháu 3000 đồng vàng để cháu trở thành một ông lão như ta, già cả, lú lẫn được không?
- Đương nhiên là không ạ.
- Cháu muốn giàu, vậy ta sẽ đưa cho cháu 30.000 đồng tiền vàng để lấy đi mạng sống của cháu, cháu thấy thế nào?
- Cháu cám ơn ông, cháu đã hiểu cháu cũng là một người giàu có.
Trong cuộc sống, rất nhiều người thường than thân, trách phận mà không hiểu thực ra mình còn hạnh phúc hơn rất nhiều người khác.
Bạn hãy xem:
- Nếu sáng nay tỉnh dậy, cảm thấy mình khỏe mạnh, thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người không còn cơ hội sống đến ngày mai.
- Nếu bạn chưa bao giờ phải trải qua sự tàn phá của chiến tranh, sự đơn độc, lạnh lẽo trong nhà tù, chưa bị đói rét rình rập, thì bạn đã may mắn hơn 500 triệu người trên trái đất.
- Nếu trong tủ lạnh nhà bạn có thức ăn, bạn có quần áo để mặc, có tiền để tiêu, thì bạn đã hạnh phúc hơn biết bao người nghèo đói vô gia cư trên thế giới.
- Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng, thì bạn đã được xếp vào nhóm 8% những người giàu có trên thế giới.
- Nếu bố mẹ bạn vẫn còn sống và vẫn sống vui vẻ hạnh phúc bên nhau, thì bạn thuộc số ít nhóm người hạnh phúc nhất trên thế giới.
- Nếu trên khuôn mặt bạn lúc nào cũng nở một nụ cười tươi tắn, bạn luôn cảm thấy lạc quan yêu đời thì bạn là người vô cùng hạnh phúc bởi trên thế giới có rất nhiều người muốn lạc quan như bạn mà không được.
- Nếu bạn được ôm người thân vào lòng hay được dựa vào bờ vai của họ để nói lên tâm sự của mình thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều những người không bao giờ nhận được tình yêu từ người khác.
- Nếu bạn đọc được những dòng chữ này, bạn có thể nhìn lại mình qua gương và mỉm cười: "Hóa ra mình cũng là một người giàu có".
(Sưu tầm)

TRÍCH TINH HOA CHƠN LÝ

1. Lòng thương có cao có thấp, có sạch có dơ, có trúng có thật. Thương ngay thẳng là đến Niết bàn sống mãi, thương tà vạy là sa địa ngục diệt vong.
Chơn lý NAM VÀ NỮ
2. Quan hệ nhứt là chữ ái chia tẽ hai đường: Người đứng trên chữ ái là chư Phật, kẻ nằm dưới chữ ái là chúng sanh. Điều đó đáng cho chúng ta thận trọng!
Chơn lý THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
3. Ấy vậy chúng ta nên hiểu rằng: Người tội sanh pháp luật chớ không phải pháp luật sanh người tội. Pháp luật cai trị kẻ ác chứ không phải áp chế người hiền, Luật pháp để đem người ác đến chỗ hiền. Muốn cho người hiền và kẻ hiền rồi thì phải lo tu học, tìm hiểu công lý lẽ thật, đặng đến chỗ yên vui cực lạc, chớ khá tự cao đứng hoài mỏi cẳng, sa ngã té rớt xuống hố ác khốn hoạ không nên vậy
Cách ngôn: Công lý hơn pháp luật
Chơn lý CÔNG LÝ VŨ TRỤ
4. Biết quý báu hơn không biết, có biết mới hết mê lầm chấp trật, khổ sở nạn tai…Chính biết là ta, là mục đích của chúng sanh, là chơn lý của cuộc đời, là tinh hoa vũ trụ
Chơn lý KHẤT SĨ
5. Nếu ta sống có ích lợi cho người, thì người khác họ cũng sẽ sống có ích lợi lại cho ta
Chơn lý Y BÁT CHƠN TRUYỀN
6. Người có ý địnhh thì thân khẩu ý mới trong sạch, tuy ít mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết quả yên vui biết bao nhiêu!
Chơn lý NHẬP ĐỊNH
7. Hột giống thú là: thân, khẩu, ý ác.
Hột giống người là: thân, khẩu, ý thiện.
Hột giống trời là: thân, khẩu, ý thiện.
Hột giống phật là: thân, khẩu, ý chơn.
Chơn lý TÂM
8. Người chân thật ai cũng kính yêu.
Kẻ vọng giả nhiều người khinh bỉ.
Chơn lý TÂM
9. Chơn lý như mặt trời, pháp lý như đèn sao, thế sự như hang tối. Vậy nên cái học của chúng ta là học chơn lý, thấu chơn lý mới gọi là thật học.
Chơn lý HỌC CHƠN LÝ
10. Lời nói của người tu, ví như hoa sen, việc làm của người Tu, ví như lá sen, ý niệm của người Tu, ví như gương sen, cả thảy các pháp đều ở trên cao không trung, và không còn phải ô nhiễm nước bùn theo thế sự.
Chơn lý TRÊN MẶT NƯỚC
11. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là cũng bởi trọng tài, quên tu đức.
Chơn lý TÔNG GIÁO
12. Phép linh là phụ thuộc, chỉ có trí huệ, tâm chơn mới thật là của cải!
Chơn lý THẦN MẬT
13. Địa ngục vô số đếm! Tâm địa ngục nhốt trói cũng gọi là địa ngục! Cái khổ ép ngặt cũng là địa ngục! Tham sân si cũng là địa ngục! Sự ích kỷ cũng là địa ngục! Địa ngục lớn địa ngục nhỏ, tuỳ theo việc làm, lời nói, ý niệm, giáo lý chẳng hay cùng.
Chơn lý GIÁC NGỘ
14. Tâm Niết bàn yên hơn cảnh Niết bàn, trí thiên đường vui hơn là cảnh thiên đường, Tâm địa ngục khổ hơn là cảnh địa ngục, vì cảnh ngoài dễ mau dời đổi, chớ cảnh trong thì khó lâu dời đổi đặng. Vì thế nên kẻ đã giác ngộ rồi, thì không chăm chú những việc bên ngoài kia nữa.
Chơn lý GIÁC NGỘ
15. Chúng ta nên phải tự mình biết ghê sợ tội lỗi, hổ thẹn tội lỗi, và dứt trừ tội lỗi của chính mình, tốt hơn là để người chế trị.
Chơn lý GIÁC NGỘ
16. Phật là người giác ngộ
Chúng ta sớm nên giác ngộ
Vì sự giác ngộ tâm chơn quý báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh lợi, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại.
Chơn lý GIÁC NGỘ
17. Người ở đời nếu không tu thì khó sống an vui, mà tu sái phép thì lại càng khó sống an vui hơn nữa.
Chơn lý KHUYẾN TU
18. Tài học sao cho bằng đức hạnh. Đức hạnh mới được bền dài cao quý hơn.
Chơn lý ĐI TU
19. Ta không muốn cái gì, thì đừng bắt kẻ khác phải chịu cái ấy, mà ta muốn gì và họ không muốn gì? Trả lời được câu ấy, là ta thấy ra tất cả thế giới chúng sanh ngay
Chơn lý CON SƯ TỬ
20. Trời phật cứu độ ta bằng pháp bảo, ta mà được cứu độ hay chăng, là bởi tự nơi mình, xét lại hành vi của mình.
Chơn lý ĂN VÀ SỐNG
21. “Ai không cho, cho kẻ đã hỏi xin, là người ấy có tội với công lý; nhưng cũng đừng xin thái quá, để phải mích lòng người”
Chơn lý ĂN VÀ SỐNG
22. Phật là chỗ đến của tất cả chúng sanh, cũng như toàn giác là chỗ đến của tất cả sự học: chơn như là chỗ đến của tất cả phước đức thiện lành, từ bi, trí huệ.
Chơn lý CHƯ PHẬT
23. Đừng nghe ai xưng tặng mà gọi là vinh, đừng thấy ai dâng của mà cho là lợi, đừng thấy ai khóc lóc, trìu mến, níu kéo, mà động tình thương ở lại, vì đó là ma vương cám dỗ.
Chơn lý ĐI HỌC
24. Đức phật khi xưa, cũng tội lỗi mê muội như chúng ta, nhưng nhờ ngài sớm nghe qua tỉnh ngộ, không vì nghe lời thẳng mà giận, biết nín lặng mà nghe, biết dằn lòng mà sửa, do đó mà được chỗ hơn người
Chơn lý VỊ HUNG THẦN
25. Có không tham vọng, tâm mới no đủ; có không sân si, tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch, Thân khẩu ý không vọng động thì tâm hồn mới an trụ cứng cỏi
Chơn lý PHẬT TÁNH
26. Người tu là bao giờ cũng thấy lại nơi mình, thấy cái phật tánh của mình, xem lại mình có giống y như Phật chăng.
Chơn lý PHẬT TÁNH
27. Học là để tu, chớ không phải học là để học mà sanh lòng ngạo mạn.
Chơn lý HỌC ĐỂ TU
28. Nào ai có ngờ đâu, chính người khổ nạn cực nhọc, vui chịu thiệt thòi mãi, kẻ ấy mới ắt phải giàu to tâm trí, an lạc, vĩnh viễn sau này, đó mới gọi là phép Tu vậy.
Chơn lý TU VÀ NGHIỆP
29. Thân trong sạch ấy là xứ Phật
Miệng trong sạch ấy là pháp Phật
Ý trong sạch ấy là con Phật
Tâm trong sạch tức là đức Phật.
Chơn lý TU VÀ NGHIỆP
30. Tội lỗi chẳng phải hại cho xác thân không thôi, mà là nó sẽ giết hại tâm hồn ta nữa.
Chơn lý SÁM HỐI
31. Lễ giáo là một chơn lý rất quý báu, là một phép tắc rất diệu mầu, là nấc thang thiện lành tránh ác.
Chơn lý LỄ GIÁO
32. Đời không lễ giáo là đám rừng hoang ly loạn.
Chơn lý LỄ GIÁO
33. Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lý của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi mình, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói mình trong chữ Phật, tiếng đạo, hay tong giáo riêng biệt.
Chơn lý ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ
Được đăng bởi Hoàng Thị Hải Vân

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Ý NGHIỆP

Từ bài TU LÀ CHUYỂN NGHIỆP (Thân nghiệp, Khẩu nghiệp , Ý nghiệp), Đến bài “KHẨU NGHIỆP” được mọi người tham gia sôi nổi…
Có người nhận xét: Blog viết về Đạo Phật nhiều quá!
Tôi nghĩ: Có gì mâu thuẫn với CLB Thiền Lửa Tam Muội đâu? Thầy ta chẳng từng giảng đi giảng lại muốn cho Thiền Lửa Tam Muội tốt, có kết quả tốt, thì đầu tiên phải tu tâm cho tốt. Tâm có tốt thì năng lượng tốt mới vào. Tâm không tốt thì năng lượng xấu xâm nhập…
Thầy tổ môn phái Thiền Lửa Tam Muội DASIDA NARADA và người tiếp nối NARADA MAHATHERA chẳng phải là những thiền sư của Phật Giáo đó sao? Ngài từ bỏ vị trí trong chính phủ Srilanka lên Tây Tạng tu tập đắc đạo, rồi mới trao truyền cho chúng ta môn Thiền Lửa Tam Muội này. Vậy thì TU TÂM theo pháp môn này, dứt khoát phải tu theo Đạo Phật, không phải đạo nào khác.
Vì lẽ đó, tôi mới trao đổi với bạn đọc về sự TU THEO ĐẠO PHẬT, mà không lạc đường theo lối tu của đạo nào khác.
Người đã TU THEO ĐẠO PHẬT, thì đầu tiên là phải nhận thức rõ TU THEO ĐẠO PHẬT là gì? Như đã trình bầy, bản chất, cốt lõi của tu theo Đạo Phật là chuyển nghiệp từ nghiệp dữ sang nghiệp lành ở cả 3 lĩnh vực: Ý nghĩ, lời nói, việc làm. Phật dạy rất rõ ràng, cụ thể, nghe ai cũng hiểu, không lên chùa cũng có thể ở nhà theo đó rèn luyện mình cũng rất tốt.
Giờ muốn chính thức tu theo đạo Phật , thì thực hiện TAM QUI NGŨ GIỚI.
TAM QUI là tâm mình nguyện nương tựa nơi Đức Phật, là tôn trọng giáo lý nhà Phật, là tôn trọng những bậc tu hành đạo phật (gọi là Qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng).
NGŨ GIỚI là 5 điều tốt đẹp nguyện theo thực hiện hàng ngày: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu nghiện ngập mê muội.
Thủ tục thực hiện TAM QUI NGŨ GIỚI là cần lên chùa làm lễ QUI Y TAM BẢO, giống như chúng ta muốn tham gia CLB thì phải làm các thủ tục ABC…Rồi nhà chùa cho ta cái tên theo đạo Phật. Lúc đó ta trở thành Phật tử của Đạo Phật. Ví dụ như tôi sau qui y, có tên là LÂM PHÚC, vợ tôi là DIỆU THỤC chẳng hạn.
Cao hơn NGŨ GIỚI, thì tu theo 10 điều tốt đẹp , gọi là “THẬP THIỆN”, cũng bào gồm “ngũ giới” cộng thêm 1 số điều chi tiết, đầy đủ hơn.
Vậy THẬP THIỆN là gì ?
Thập thiện= mười nghiệp lành
(NXB Tôn Giáo,3.2002)
1. Không sát sinh, từ bi, sẽ được khoẻ mạnh trường thọ.
2. Không trộm cắp, ngay thẳng, sẽ được giầu sang an vui.
3. Không tà dâm, trong sạch, sẽ được xinh đẹp, hạnh phúc.
4. Không nói dối,chân thật, sẽ được uy thế tiếng tăm.
5. Không thêu dệt, xảo ngôn, sẽ được mọi người quí mên.
6. Không đâm thọc, nói lời ly gián, sẽ được mọi người ủng hộ.
7. Không nói lời thô ác, cay nghiệt, thô tục, sẽ được cao sang.
8. Không xan tham, rộng rãi thí xả, sẽ được phước báo vô lượng (mở rộng: 5 cái tham phải tránh: Tham tiền, tham quyền lực, tham ái tình, tham ăn uống, tham ngủ nghỉ không làm việc)
9. Không sân hận, từ hoà nhẫn nại, sẽ được vô lượng duyên lành (từ bỏ ghen tuông, đố kỵ, tự kiêu tự đại…).
10. Không si mê, sáng suốt tỉnh giác, sẽ được vô lượng trí tuệ (mở rộng: không uống rượu, không ma tuý, chất kích thích..)
Theo giáo lý nhà Phật, thực hiện được TAM QUI NGŨ GIỚI, hay THẬP THIỆN, sẽ được về CÕI TRỜI ở mức độ nhau. Cõi trời còn chịu LUÂN HỒI, nghĩa là khi nghiệp lành hết, thì lại chịu luân hồi sinh tử…
Chỉ khi tu được ở mức cao hơn, hiểu rõ giáo lý Đạo Phật, rèn luyện được TÂM TỪ, BI, HỶ, XẢ, từ bỏ được THAM, SÂN, SI, làm được mọi nghiệp lành ở thân, khẩu, ý … thì mới được về cõi Phật, hết luân hồi sinh tử…Chỉ nói vài dòng, nhưng bao nhiêu kinh phật giảng về điều đó đấy!
Bây giờ nếu ta muốn tu theo 3 nghiệp THÂN, KHẨU, Ý, thì dĩ nhiên cần xoay quanh NỘI DUNG CỦA THẬP THIỆN mà tu dưỡng. Muốn có những điều ấy, thì TÂM TỪ, BI, HỶ, XẢ là cái cốt lõi để 3 nghiệp thân, khẩu ý soi vào mà tu, mà chuyển từ ác sang thiện.
Về nội dung TU, hàng ngày nghĩ gì, nói gì, làm gì thì xoay quanh thập thiện. Đó là nội dung tối thiểu mà người Phật Tử phải nhớ, phải theo.
Đúng như 1 bạn “Vô Danh” nhận xét trên bài viết về Khẩu Nghiệp: Ý nghiệp là cái gốc. Ý nghiệp là suy nghĩ, tư tưởng của ta. Có suy nghĩ, mới đi đến lời nói, đi đến hành động. Cho nên từng giờ, từng phút ta phải rèn ý nghiệp. Điều này tương tự sự giáo dục rèn luyện trong tổ chức Đội Thiếu Niền Tiền Phong, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản: Lấy rèn luyện tư tưởng làm gốc….
Nhựng sự thật nói thì dễ, làm thì khó khi ta thiếu sự tỉnh táo và quyết tâm sửa chữa thói quen xấu. Ví dụ: Người đời thường có thói quen hay chê bai người khác, ít khi tự kiểm chê bai mình! Từ đó, nhìn thấy ai, nghe thấy gì..hay tỏ lời chê bai, dè bỉu, có khi nói tuột ra, có khi nửa nạc, nửa mỡ, ai nói lại thì chống chế “ tao đùa ấy mà”. Làm cho người khác buồn, giận, tự ái.. thì có phải là người tu theo nghiệp lành không? Thói xấu này bắt nguồn từ đâu? Chính là từ ý thức thiếu tôn trong người khác, từ ý nghĩ chủ quan luôn coi mình là đúng, mà thiếu ý thức khiêm nhường, học hỏi người xung quanh, học hỏi để hoàn thiện mình…Bởi vậy, tu Ý để luôn có ý nghiệp lành, là sự tu dường hàng ngày, hàng giờ, mọi lúc, mọi nơi. Lúc đầu thì có vẻ gò bó, nặng nề! Khi trở thành thói quen, thì dễ dàng như hít thở không khí trong lành hàng ngày vậy. Vì thế, khi lên chùa thắp hương khấn Phật, thì đầu tiên là phải biết SÁM NGUYỆN, rồi mới đến CẦU NGUYỆN, cuối cùng phải HỨA NGUYỆN. Đó là nội dung đầy đủ của việc lên chùa thắp hương cúng Phật . Thói thường lên CHÙA, lên ĐỀN, chỉ biết cầu nguyện này nọ với phẩm vật thật to, thật nhiều! Như vậy là chưa đúng, và có khi là sai với giáo lý nhà Phật. Lên chùa thắp hương Phật, là TU Ý NGHIỆP sao cho được thanh tịnh, trong sạch. Cho nên,trước tiên phải sám hối, phải hứa sửa chữa lỗi lầm của mình , rồi mới đến cầu nguyện điều mình mong mỏi. Phật không phải là những ông quan tham nhũng, thích được hối lộ của Phật tử, thích những mâm cúng rõ đầy để ban phước cho mình. Làm như vậy, thể hiện tâm mình chưa thanh tịnh. Điều nói này, khác với việc cúng giàng, ủng hộ nhà chùa tài, vật. Cúng giàng là vì chúng sinh, vì sự nghiệp cao cả của nhà chùa…Sắm lễ lớn để cầu xin là vì bản thân mình. Hai việc khác nhau về bản chất.
Có câu:
Đời sính lễ là hiểm hoạ quốc gia
Đời sính Đạo mới an sinh xã tắc.

Con người ta khi tu được cái tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, thì phong thái con người cũng thay đổi theo lối AN NHIÊN TỰ TẠI, nghĩa là dung dung thanh thản, tướng mạo đôn hậu, không vết lo buồn, giận hờn.
Có câu:
Tướng tự tâm sinh,
Tướng tuỳ tâm diệt.
Người có bụng dạ độc ác, thì tướng mạo hung tợn. Người gian dối, thì tướng mạo lấm lét, hay liếc ngang liếc dọc...
Người hay thâm thù, thì mặt mũi lì lợm...
Vậy đúng là Ý nghiệp là cái gốc phải tu theo THÂN, KHẨU, Ý.
Còn thân nghiệp thì rõ rồi, thực hiện được THẬP THIỆN là nội dung căn bản của thân nghiệp lành.

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

MÓN QUÀ LỚN - Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận Di sản Văn hóa thế giới

Vào 6 giờ 30 phút ngày 1-8 (tức 20 giờ 30 phút ngày 31-7 theo giờ Bra-xin), tại Thủ đô Brasilia của Bra-xin, kỳ họp lần thứ 34 của Ủy ban Di sản thế giới đã biểu quyết thông qua nghị quyết công nhận Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) là Di sản Văn hóa thế giới. Ðây là sự kiện hết sức có ý nghĩa trước thềm Ðại lễ Kỷ niệm 1000 Thăng Long - Hà Nội.
Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội bao gồm Khu Di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu với diện tích hơn 47 nghìn mét vuông và Thành cổ Hà Nội với diện tích hơn 138 nghìn mét vuông, tạo thành một di sản thống nhất.
Ủy ban Di sản thế giới công nh
ận Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới dựa trên ba tiêu chí. Ðó là những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng.
Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ và vẫn được tiếp nối cho đến ngày nay.
Di sản đề cử là bằng chứng thuyết phục về sức sống và khả năng phục hưng của một quốc gia sau hơn mười thế kỷ bị nước ngoài đô hộ. Di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Từ năm 2006, được sự chỉ đạo chặt chẽ... Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được bảo vệ, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.
Hồ sơ được đăng ký từ tháng 9-2008 và chính thức đệ trình UNESCO từ tháng 1-2009, được UNESCO tiến hành các quy trình thẩm định chặt chẽ thông qua cơ quan tư vấn IOCMOS và đến nay đã được Ủy ban Di sản thế giới (gồm 21 nước thành viên) công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.
Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân Việt Nam, là sự tri ân công đức với các vị tổ tiên đã có công khai sáng, xây dựng và bồi đắp giá trị lịch sử, văn hóa của Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, là tài sản vô giá, tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Thủ đô và đất nước.
Sự kiện này cũng đặt ra nhiệm vụ và thách thức với TP Hà Nội ... đón nhân dân và du khách trong nước, quốc tế đến tham quan di sản trong Ðại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Nghị lực cuộc sống

Qua môn thể thao mà tôi ưa thích: môn bóng bàn, tôi đã có thêm được một số người bạn, trong đó có anh Vũ Đặng Chí - Cây vợt Vàng của bóng bàn người khuyết tật Việt nam.
Anh Vũ Đặng Chí bị chấn thương cột sống từ năm 16 tuổi, chiếc lưng cong hình chữ C (bọn tôi vẫn nói vui: người không bao giờ nhìn thấy mặt trời), đôi chân không thật khoẻ nhưng nghị lực và niềm đam mê bóng bàn vẫn luôn thôi thúc anh tập luyện. Cách đây đúng 43 năm, Vũ Đặng Chí - cậu học sinh cấp 3 từng vô địch cây vợt trẻ tỉnh Hà Nam không may bị tai nạn trong một lần tập thể thao cùng bạn bè. Những tưởng sau bao cố gắng chạy chữa của gia đình thì bệnh tình sẽ thuyên giảm, ngờ đâu số phận nghiệt ngã đã bắt anh phải gắn với chiếc xe lăn cùng căn bệnh viêm cột sống dính khớp.
Gần 30 năm trôi qua với bao khó khăn của cuộc sống vẫn không làm nguôi đi niềm say mê thể thao của anh. Đầu những năm 90, phong trào tập luyện thể thao của người khuyết tật đã đánh thức Vũ Đặng Chí quay trở lại với môn bóng bàn mà anh từng yêu thích. Và từ đó CLB thể thao người khuyết tật (TTNKT) Hà nội đã trở thành địa chỉ quen thuộc của anh. Cả thời trai trẻ đến tận bây giờ, cuộc sống của anh phải gắn liền với chiếc xe lăn, xe mô tô ba bánh. Đối với anh, công việc chạy "xe ôm" và tập luyện bóng bàn là những nhiệm vụ chính vừa để phục vụ cho mình, vừa để có thu nhập nuôi sống gia đình. Lúc đầu đến với thể thao, thời gian dành cho tập luyện không nhiều, sau này càng chơi, anh thấy thể thao thật sự có ý nghĩa đối với sức khoẻ bản thân mình và lại càng say mê tập luyện hơn. Không chỉ tập luyện thể thao tại CLB thể thao của người khuyết tật, nhiều lần anh Chí còn tìm đến những CLB Bóng bàn của những người bình thường để giao lưu, thử sức và rút kinh nghiệm trong mỗi lần giao đấu. Với hơn chục năm tham gia hội thể thao người khuyết tật (TTNKT) Hà Nội, qua các giải thi đấu lớn nhỏ, Vũ Đặng Chí đã giành được cho mình hàng chục chiếc HCV bóng bàn trong nước và quốc tế. Anh được coi là tấm gương rèn luyện thể thao, tích cực học hỏi, cầu thị, vượt lên khó khăn bệnh tật hiểm nghèo để giành được những thành tích đáng tự hào. Dù đã gần 60 tuổi và phải ngồi xe lăn vì thương tật nặng, nhưng Vũ Đặng Chí vẫn là cây vợt chủ lực của bóng bàn Việt Nam tại các kỳ Para Games. Qua nhiều giải thể thao người khuyết tật, anh Chí đã gặt hái được những thành tích đáng kính nể. Nhờ tập luyện đều đặn và lấy lại những cảm giác kỹ thuật và phản xạ, anh đã đoạt chức VĐQG năm 93-94, 2000-2003 và khẳng định là cây vợt hàng đầu của TTKTVN. Đặc biệt, anh đã được tham dự nhiều giải TTKT quốc tế tại Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc với thương tật loại 4. Thành tích của anh là đoạt HCĐ đồng đội tại Đại hội TTNKT châu Á - Thái Bình Dương (FESPIC) năm 1999 Bangkok, Thái Lan), HCV (đồng đội, đôi nam) và HCB cá nhân tại giải tiền Para Games 1 tháng 5/2000. Lẽ ra, anh đã có thể cùng đồng có mặt tại Paralympic Sydney 2000 nếu không gặp trở ngại vì kinh phí. Tại ASEAN Para Games 3 anh cùng đồng đội đã thi đấu đạt thành tích xuất sắc với 3 HCV ở các nội dung: đôi nam nữ, đồng đội nam, đơn nam. Ngày 24/3/2006 trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành thể thao Việt nam, Phó TT Phạm Gia Khiêm thay mặt Chủ tịch nước đã trao tặng huân chương lao động hạng 3 cho anh Vũ Đặng Chí vì có nhiều thành tích xuất sắc trong thể thao người khuyết tật.
Đã hơn mấy chục năm nay anh phải làm mọi thứ trên chiếc xe máy ba bánh tự chế để kiếm kế sinh nhai. Hàng ngày chở người, chở hàng để nuôi bản thân và gia đình, chị Hòa người vợ của anh cũng là một người bị hỏng về thị lực và anh chị có duy nhất một cậu con trai, kỳ thi Đại học vừa qua một niềm vui nữa đến với vợ chồng anh Chí: cháu Minh con trai anh Chí, đã thi đỗ vào Học viện kỹ thuật quân sự. Khi vắng khách, anh lại đến những nơi người ta chơi bóng bàn để "thách" đấu nâng cao kỹ năng.
Hiện nay ngoài việc tập luyện, khi ở nhà anh đi dạy bóng bàn cho các VĐV khuyết tật khác của Hà Nội. Cuộc sống với người đàn ông kém may mắn này vì thế mà ý nghĩa hơn. Nói với tôi, anh Chí rất tự tin và với vẻ khiêm tốn: “Quan trọng là tự vượt qua chính mình”.
Một số hình ảnh tập luyện của đội bóng bàn người khuyết tật Hà nội