Có một nơi mọi người đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi, gặp nhau mỗi tuần một lần, hàng tháng cùng nhau đi dã ngoại để luyện tập, để cười vui, để chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Đó là chính là Câu lạc bộ Dưỡng sinh Năng lượng thuộc chi hội y học Esperanto - Hà Nội của chúng tôi. "Vui, khỏe, sống có ích cho đời" là mục tiêu của Câu lạc bộ chúng tôi.
Đề nghị ghi rõ nguồn http://luatamuoi.com/ khi sao chép những bài viết chia sẻ từ trang Câu lạc bộ DSNL.
Mọi liên hệ xin gửi về một trong 3 địa chỉ ở mục LIÊN HỆ. Xin trân trọng cảm ơn."

Hiển thị các bài đăng có nhãn thiền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Thở và Thiền Anapanasati

 Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen ( Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là “quán sát hơi thở”, “nhận thức hơi thở”. 



Tôi đến với Thiền rất trễ. Trước đó, những năm hai mươi tuổi tôi cũng có đọc thiền, biết thiền qua sách vở, qua Krishnamurti, Suzuki, thầy Minh Châu, thầy Nhất Hạnh… nhưng đọc để biết, để có kiến thức thế thôi. Tôi cảm thấy thiền là cái gì đó huyền bí xa vời, có phần như mê tín dị đoan nên chỉ “kính nhi viễn chi”. 

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Ngồi thiền chữa bệnh thân và tâm

Ngồi thiền 

Luyện thân có luyện Tĩnh và Động, Thiền Tĩnh là ngồi yên, Thiền Động có thể Kinh Hành hoặc có một bài quyền thường tập, giúp khí huyết lưu thông, nhất là những vùng khí lạnh cần phải tập động công cho cơ thể ấm áp. Bài viết này chú trọng đến Thiền Tĩnh nặng về luyện Thân Ý còn Thiền Động nặng về luyện Thân Tướng.
Ngồi thiền chữa bệnh thân và tâm
Sau khi đã có đời sống thay đổi như thế, bắt đầu ngồi yên tịnh cho thân được yên. 

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Thiền - “Thuốc” đa năng

(Nguồn: suckhoedoisong.vn)
      Thiền là một phương pháp tập luyện có từ rất lâu đời ở phương Đông do Đức Phật Thích Ca thực hiện đầu tiên nhằm làm cho con người giải thoát được khổ đau, hài hòa được thân tâm, phát huy được trí tuệ của chính mình. Dưới góc độ khoa học, phương pháp thở của thiền có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn, mất cân bằng của hệ thần kinh và não bộ. 

Hiểu đúng về thiền 

      Việc thực hiện thiền từ hơn 2.500 năm nay theo Đức Phật rất khó thực hiện vì những triết lý: hiểu sâu về chân tâm và vọng tưởng trong khi thiền nên nhiều người đã thực hiện theo cách hiểu của mình làm cho việc tu thiền có đến cả triệu phương pháp. Bản thân thiền sư Thích Thông Triệu (Thiền chủ Thiền viện Tánh không ở Hoa Kỳ) ngày xưa cũng đã thất bại khi áp dụng tu thiền theo truyền thống. 

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

100 lợi ích của Thiền Định

Lợi ích của Thiền Định thì nhiều lắm, nào thì giảm stress, ăn ngon miệng, ngủ sâu hơn, sức đề kháng tốt hơn, cảm thấy vui vẻ, yêu đời,... Hôm nay đọc được bài này, khuân về cho cả nhà cùng đọc. Ai phát hiện thêm lợi ích nào nữa thì bổ xung thêm vào nhé.
Thế mới biết học thiền sướng thật. Ai chưa học thiền thiệt nhỉ. :)

 Bé Khánh Linh, 10 tuổi, con chị Nguyễn Thanh Hiền, lớp ST4
1. Hạ thấp sự tiêu thụ oxy

2. Hạ thấp nhịp hô hấp
3. Tăng lưu lượng máu và giảm nhịp tim
4. (Bạn đọc tự điền thêm vào nhé - HT)
5. Dẫn tới mức độ thư giãn cơ thể sâu hơn

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Trao đổi năng lượng - Kỹ năng hòa nhập vũ trụ (thu năng lượng vũ trụ) (phần 2)

Vừa qua ta mới nói về quán tưởng hòa nhập vũ trụ, về kỹ năng ta vận dụng quá trình Tiểu Châu Thiên (dương kinh) hoặc Đại Châu Thiên (âm kinh) và hòa quyện âm dương. Khi quán tưởng khí đi nghịch chiều tức là ta bắt đầu chìm vào vô vi và vận khí. Khi ta muốn thu năng lượng từ vũ trụ thêm vào người ta nhắm mắt hờ quán tưởng dòng khí có thể từ ngoài rộng lớn xoáy tròn theo chiều kim đồng hồ tụ lại thành một điểm trắng hoặc đen thấm qua đầu ta qua đỉnh đầu, qua trán, qua rốn hoặc qua lòng bàn tay tuỳ ta quán tưởng lấy. Nếu ta thu năng lượng vào thì ta cũng phát được năng lượng ra, có thể vừa thu năng lượng vào ta sẽ dùng mắt phát ra nhằm vào một đối tượng nào đó đồng thời ám thị đối phương bằng những định nghĩa kêu gọi hợp tác khi lệnh đưa ra mà đối phương chấp nhận hợp tác thì việc đó đồng nghĩa với danh từ đang thôi miên.

Nếu ta muốn loại bỏ khí dơ cũ ta có thể xả dương xả âm, vận một luồng âm khí Đại Châu Thiên khi ta đứng hoặc ngồi trên nghế hai chân chạm đất, luồng năng lượng lớn mạnh dần tạo ra thế năng dư thừa trong cơ thể lúc đó ta cảm nhận một dòng xoáy khí êm đều rộng lớn từ sâu trong lòng đất tràn vào hai bàn chân ta vòng quanh hai bàn chân dâng dần dần lên cao qua bụng, qua ngực, qua đầu và đi thẳng lên cao mãi mãi, vĩnh cửu. Đó là quá trình xả âm trong quá trình đó ta quán tưởng dĩ vãng văng ra ngoài vòng tròn khí dâng lên rồi xa mãi mãi dòng khí của ta, đó là những dĩ vãng xấu đã ra đi ta gột rửa năng lượng làm sao cho chúng ta được trở vào vô vi.

Nếu ta tích dương thì xả dương, tích âm thì xả âm, nếu tích dương cho nhiều mà không muốn xả thì ta quay ngược dòng năng lượng lại. Ví dụ đang quán tưởng cửu dương kinh (Tiểu Châu Thiên) ta thấy nhiều rồi nóng hơn ta muốn ôn hoà lại thì dừng dòng kinh ta chuyển vào vô vi thiền học một lúc sau đưa dòng kinh ngược lại từ đầu ra sau lưng dọc sống lưng xuống và lên đằng bụng lên ngực lên đầu. Trong quá trình vận công thanh hoá cơ thể thì ngược xuôi đều được thanh hoá, nếu chữa bệnh cho người bị hàn âm thì tiếp dương liên tục, do đó ta phải truyền một dòng năng lượng tương đương và hội nhập năng lượng vũ trụ dương vào cơ thể, năng lượng dương là vào lúc còn ánh mặt trời, năng lượng âm là ánh trăng sao. Ban đêm tích âm xả âm, ban ngày tích dương xả dương. Nếu mất nhiều dương khí qua đêm thì khó tích luỹ dương khí lại có chăng đi giày đốt lửa mặc ấm chờ đến sáng mai.

Người hoà nhập vũ trụ khi đi ngoài đường nắng quá thì tích âm cho nhiều, lạnh quá thì tích dương, mưa gió to lạnh buốt thì vận khí dương đồng thời đóng cửa cơ thể không tham gia với bên ngoài, cắt trường năng lượng bằng cách ra lệnh cắt trường năng lượng đóng cửa chuyển hoá tăng điện trở cơ thể không trao đổi điện với không gian. Tức là đưa vô vi vào vô cực cắt luôn dòng chuyển hoá năng lượng trong cơ thể, không định hướng nữa.

Nếu không gian quanh ta luôn tươi đẹp, mát mẻ, êm đềm thì ta thu lấy hào quang đó của không gian bằng cảm giác hoà điệu và ám thị bằng lệnh hãy hòa quyện không gian và thu lấy hào quang không gian, sau đó là quá trình trao đổi năng lượng với xung quanh bằng tâm hồn đồng cảm như thế và lúc đó thần tiên thâm nhập vào ta và quanh ta chính là ta tan ra trong vũ trụ tuyệt vời này.
(Còn tiếp)
(Người sưu tầm: Nguyễn Hoàng Vân. Nguồn: Cánh cửa trường sinh - Đặng Công Huấn)

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Trao đổi năng lượng (phần 1)

Quá trình thải âm, thải dương, thu âm, thu dương quá trình trung chuyển năng lượng vũ trụ xuyên qua thân thể ta theo nhiều chiều là quá trình hội nhập cơ thể với vũ trụ, quần áo ta mặc phải nhẹ nhàng, thấm được mồ hôi không cần thắt lưng, khi ngồi nghỉ nên tháo giày ra đặt chân xuống đất, khi ta vào một khu vườn đẹp thì thưởng thức trò chuyện với nó bằng cách tiếp nhận năng lượng yêu thương từ vườn cây tỏa ra. Khi đi qua một bãi khói bụi thì cơ thể đóng cửa lại, không thu hút, nhịn thở, chuyển cơ thể vào trạng thái đóng cửa.
Trạng thái đóng cửa: khi cơ thể không thích nghi với không gian bên ngoài nếu là quãng đường nhiều bụi thì ta có thể nhịn thở một thời gian và đưa cơ thể vào trạng thái tĩnh của luyện công không vận hành cơ thể, động tác đó như sau: hít một hơi dài , từ từ thở ra khi đến đám bụi, nhịn thở để đi thêm một quãng đường nữa qua đám bụi. Trạng thái này cũng như một vi khuẩn không gian chúng co lại nhỏ bé và nhẹ nhàng, mảnh như một hạt bụi gần như vô hình và không có hoạt động sống chúng lơ lửng trong môi trường khắc nghiệt nhiều năm liền cho đến lúc không gian bên ngoài thích nghi thì chúng sống lại. Chính chúng ta cũng cần học hỏi phương pháp đó. Cơ thể vận khí đến gần với thể Plasma sẽ tạo ra một thực thể cực kỳ thống nhất để mở ra hoặc thu vào, để liên lạc với vũ trụ bởi vì một cơ thể bình thường không bao giờ thích nghi với vũ trụ được.
Vũ trụ phần lớn là vô tình cho nên những động vật có vú, ví như con người rất khó sống trong đó. Càng muốn thích nghi càng phải hòa nhập phải đưa được ta thành một cái cây, hòn đá, cái cây sống ngàn năm hòn đá sống triệu năm. Vậy thì bản chất của ta, linh hồn của ta phải được tiệm cận với trường tồn, phải im lặng như một cây cổ thụ, phải ẩn mình như một hòn đá. Như vậy là ta phải hòa nhập thật sự với vũ trụ và cần một sự tiến hóa trong sự xung đối giữa trí thông minh và yêu cầu cuộc sống vì tương lai. Con người lúc đó chỉ là một đám sương mù, hình hài người chẳng qua là cố tình nhớ lại nguồn gốc tươi đẹp của mình. Phương pháp hòa nhập vũ trụ phải tập trong vòng từ 1 – 3 năm. Đó là thời gian tuyệt đẹp để cơ thể ta tiếp đất tiếp trời lấy năng lượng không gian tẩy năng lượng xấu của cơ thể bù đắp liên tục, liên tục để tạo ra dòng năng lượng tái sinh vĩnh cửu cho cơ thể. Từ đó chúng ta có thể chữa bệnh cho bệnh nhân mà không sợ bị ảnh hưởng bệnh. Hòa nhập vũ trụ cũng là một biện pháp huy động toàn năng nghĩa là trong xả âm cùng Đại Châu Thiên (cửu âm), xả dương cùng Tiểu Châu Thiên (cửu dương), hoạt động năng lượng tiến hóa nhất gọi là huy động toàn năng.
Trong khi ta dùng cửu dương tức Tiểu Châu Thiên trị bệnh (bệnh nhân bị hàn âm nguy hiểm) thì ta đồng thời nạp năng lượng vũ trụ vào đầu mình và cho năng lượng đó vận theo Tiểu Châu Thiên. Lúc đó giữa ta và người bệnh có một đối lưu khí, khí khỏe và thông minh sẽ đẩy vào bệnh nhân và khí bệnh sẽ chảy ngược vào ta và hòa nhập vào Tiểu Châu Thiên (cửu dương kinh). Như vậy, hiện tượng đó gọi là huy động toàn năng.
Khi một cơ thể người biết huy động toàn năng thì bất cứ khi nào vận Tiểu Châu Thiên – Đại Châu Thiên hoặc xả âm, xả dương, thì cơ thể đó bắt đầu sinh ra nhịp điệu năng lượng toàn năng. Càng vận hành nhiều càng rơi vào hệ vô thức thể thực vật nghĩa là trong cơ thể sống hàng ngày luôn luôn là huy động toàn năng.
Trong huy động toàn năng trí tuệ sẽ được tiến hóa vô song. Sự tiến lên tiệm cận thể Plasma đưa cơ thể ta thành một bào tử rất thống nhất, nhỏ bé. Quá trình luyện tập lâu dài sẽ đưa ta ngược lại thời gian. Anh có thể mãi mãi dừng lại ở lứa tuổi đó nhưng linh hồn anh sức mạnh anh càng trẻ lại theo một thời gian nhỏ bé lại như thời còn là trẻ con và nhỏ lại nữa như là một cặp tế bào bố mẹ thời kỳ sơ khai của một bào thai.
Trong quá trình huy động toàn năng ta phải luôn hồi tưởng về quá khứ tuổi thơ, tách dĩ vãng khỏi ý nghĩ, sự luyện tập lâu dài trong vô tư (vô vị) tạo ra cho ta một bản ngã độc lập không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Ban đầu ta có thể xem giờ khi vận công dần dần ta quên việc xem giờ cũng như trong các công việc làm hàng ngày ta quên xem giờ. Điều đó ảnh hưởng tốt đến quá trình lãng quên những sự việc không cần thiết cho tương lai của chính bản thân chúng ta, không cho những dĩ vãng xấu quay lại dày vò tư tưởng và lương tâm con người.
Tâm trạng vô vi là một định hướng hoàn hảo của con người trong xã hội hiện đại ngày nay. Những điều gì không cần thiết thì loại bỏ qua một bên, chỉ nên tập trung vào những việc cần thiết mà thôi. Trong lúc luyện công thì ta hoàn toàn vắng lặng, tuy nhiên vận công là một quá trình định hướng năng lượng chảy trong cơ thể, quá trình tiêu hao năng lượng, quá trình thu năng lượng từ bên ngoài vào, quá trình ngôn ngữ tuyệt đối giúp cho tất cả các quá trình năng lượng có định hướng, quá trình ngôn ngữ có tính chất như những câu hỏi hoặc câu trả lời ám thị cho chúng ta hoặc ám thị cho bệnh nhân để chính ta hoặc bệnh nhân suy nghĩ về vị trí chữa bệnh và phương thức chữa bệnh đó.
Một bác sỹ giỏi về bệnh tim sẽ giỏi hơn gấp bội nếu thông thạo Khí Công Tâm Trí Niệm Pháp, công cuộc chữa bệnh tốt nhất là nên dùng ít thuốc, tuy nhiên dùng khí công chữa bệnh tim của bác sỹ tim thì sẽ có kết quả tốt bởi vì vị bác sỹ một mặt truyền khí tốt đến khu vực cần chữa bệnh, nhận khí bệnh để đồng hóa lại thành tốt và đọc các phương pháp chữa bệnh ngắn gọn giống như thủ thuật ám thị làm cho bệnh nhân tin tưởng và mở rộng buông thả cảm giác chống đối của cơ thể từ đó phép màu sẽ tới mau thậm chí được như ý muốn của bác sỹ lẫn bệnh nhân.
Trong không gian vô vi vô tận chứa đựng tất cả những gì con người đã biết, tưởng tượng ra và chưa tưởng tượng ra.
Nhà khí công siêu đẳng là người có độ trong sáng nhất của linh cảm, họ có ít các suy tư gọi là xấu xa, từ họ toát ra tính biện minh của logic sống hòa nhập dễ dàng với các đối tác tiếp xúc. Trường năng lượng thông tin hòa quyện với đối tác bắt tay nhau, thấu hiểu nhau và hòa đồng lại như một trường kép thống nhất. Vì vậy, nhà khí công đọc được tư duy của đối tác trong các công việc chữa bệnh, làm quen giúp đỡ lẫn nhau, yêu thương nhau hoặc cùng nhau ký kết các hợp đồng kinh tế mà hai bên cùng có lợi.
Thông thường những người luyện được tâm đạo sâu lắng thì cuộc sống ung dung, tâm hồn vô vi và vì vậy khi gặp rắc rối trong cuộc sống hằng ngày người đó sẽ vượt qua bằng những giải pháp tình thế thông minh nhanh gọn, nhiều người như vậy sẽ tạo ra một xã hội uyển chuyển thấu hiểu nhưng rất đúng đắn trừng phạt những cá nhân giám chống lại những điều tốt đẹp.
Vô vi là một không gian không tưởng, không biết về thể tích và thời gian, không có khái niệm cực nhỏ và cực lớn. Nằm trong vô vi là vũ trụ, nằm trong vũ trụ là vô vi. Vô vi là một không gian được định hướng. Trước khi chúng ta định làm gì đó thì vô vi đã có rồi. Tuy nhiên, sau khi chúng ta luyện Khí Công Tâm Trí Niệm Pháp thì chúng ta mới cảm nhận được sự hiện diện của vô vi, nhưng vô vi không là trạng thái không tuyệt đối vì có vô vi thì mới có định hướng vũ trụ, mới có định hướng tổng thể bức tranh không gian vũ trụ và các mối liên quan giữa hàng trăm nguyên tố và các quy luật của nó. Các hạt, các bức xạ và các vật thể vũ trụ sinh tồn và huỷ diệt. Tuy nhiên, vô vi là không thời gian và là vĩnh cửu. Vô vi vì vậy là đối trọng của ta trong sự sáng tạo vô biên ở cuộc sống và làm việc của chúng ta, nếu ta nằm trong vô vi thì ta trường tồn mãi mãi.
(Còn tiếp)
(Người sưu tầm: Nguyễn Hoàng Vân. Nguồn: Cánh cửa trường sinh - Đặng Công Huấn)

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

TỌA THIỀN NIỆM PHẬT

Trong bài tựa Phạm Vơng, Bồ tát giới có dạy rằng:
Sắc trẻ không dừng, dường như ngựa chạy
Mạng người vô thường, mau hơn nước dốc.
Ngày nay dầu cạn, khó bảo đảm ngày mai.
“Đại chúng! mỗi người nên nhứt tâm cần cầu tinh tấn: Chớ biến nhát trễ lười, phóng túng ngủ nghỉ; ban đêm phải nhiếp tâm niệm Phật tham thiền, chớ để thời gian luống qua vô ích mà sau nầy phải ăn năn…”Nhưng phàm muốn làm việc cho được lợi ích, chúng ta cần phải “biết làm”; ở đây muốn y chỉ lời dạy: “nhiếp tâm niệm Phật, tham thiền”, "niệm Phật tham thiền”, lẽ tất nhiên chúng ta phải biết làm sao để “nhiếp tâm”, niệm Phật, tham thiền cho trúng cách đúng phương pháp, tức là biết cách “tọa thiền niệm Phật”. Văy trước khi học về phần thật hành, chúng ta nên hiểu sơ qua về mục đích của phương pháp Tọa thiền.
A) Mục-đích của phương-pháp Tọa-Thiền
Tọa thiền là một phương pháp rất thông dụng chẳng những trong đạo Phật mà ở ngoài đạo cũng vẫn có từ xưa.
Tọa thiền nghĩa là ngồi để tham cứu một vấn đề ǵ. Thế nên tọa thiền không phải là một phương pháp chứng quả thành đạo, mà là một trong vô lượng phương tiện giúp cho thân được an, để cho tâm không loạn và được chánh niệm chánh quán. Ngoại đạo chỉ chú trọng nơi thân mà không để ư đến tâm, trong khi thật ra, tâm mới là phần chánh, đáng chú trọng hơn cả.
B) Phương-pháp Tọa-Thiền
Dưới đây là phần thực hành mà ngài Hòa Thượng Vạn Đức dạy với tất cả sự kinh nghiệm mà ngài đă thu hoạch từ nhiều năm. Phần này chia làm ba:
1. Điều-thân: Thân lúc nào cũng làm duyên trợ cho Tâm, thế cho nên nếu thân có những cử động thô thiển, khí lực sôi nổi, và lẽ tất nhiên tâm sẽ phù động, do đó khó mà nhập định được. Cho nên trước khi Tọa thiền, cần phải điều ḥa thân trước nhất. Vậy phải điều ḥa thân bằng cách nào:
a. Phải điều-dưỡng sự ăn uống.
Sự ăn uống đối với thân rất hệ trọng, vì thường bệnh phát sinh do nơi sự ăn uống. Có những thực vật hạp với cơ thể người này lại không hợp với người kia và trái lại; dầu sao, không nên dùng những thứ có dầu mỡ nhiều, tránh những chất hăng, kích thích thần kinh như café đậm, rượu, trà đặc, thuốc hút v.v… mà chỉ nên dùng những món ăn sơ sài trong sạch.
Trước giờ tọa thiền, không nên ăn quá no mà chỉ ăn vừa đủ, vì nếu ăn quá no sẽ làm mệt dạ dày, ngồi không yên ổn. Không ăn chiều lẽ tất nhiên là thích hợp đặc biệt với việc tọa thiền niệm Phật
b) Y-phục
Trước khi tọa thiền phải tắm rửa cho thân thể được sạch sẽ để tránh khỏi sự ngứa ngẩm trong mình.
Sau đó, tiết lạnh thì mặc áo ấm, trời nóng thì́ dùng y phục mỏng mảnh rộng rải và sạch sẽ.
Đai lưng (lưng quần) lúc nào cũng phải nới rộng ra.
Những điều trên đây giúp cho sự hô hấp dễ dàng và không bị lay chuyển vì thời tiết.
c) Giữ thân cho được ngay thẳng và vững vàng
(Nghĩa là làm thế nào mà khi quên nó, nó không nghiên ngả hay lay động). Muốn được như vậy, chỉ có cách duy nhất là ngồi, vì đi, đứng hay nằm không thể đạt được hai mục đích vừa nói trên.
Nhưng nếu ngồi mà thả hai chân xuống, thì khi quên, thân lại không vững; hơn nữa lúc ở trong nhà, thất, có bàn ghế giường v.v thì́ không nói chi, nhưng khi ra ngoài vườn tược đồng ruộng hay đến núi rừng để tọa thiền, khó tìm ra chỗ ngồi có thể thả chân xuống được dễ dàng .
Thế nên chỉ có cách rút chân xếp bằng lại là giúp cho chúng ta ngồi ngay thẳng và vững vàng mà thôi.
d) Cách ngồi
Có nhiều cách ngồi mà hành giả cần phải chọn lựa cho thích hợp với ḿnh
Chân
1. Toàn già (cũng gọi là kiết già hay Kim Cang tọa)
Gác bàn chân trái lên đùi bên mặt, gác bàn chân mặt lên đùi bên trái, gót hai bàn chân đều phải sát vào bụng.
2. Bán già, có hai cách:
- Hàng ma tọa: gác bàn chân mặt trên đùi bên trái (như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát) – Kiết tường tọa: gác bàn chân trái lên đùi bên mặt (như ngài Phổ Hiền Bồ tát).
-Trong ba cách ngồi, khi ngồi phải tập cho hai gối đồng sát xuống chiếu như nhau, hai mông cũng chịu đều như nhau thì mạch máu không bị cấn tất không bị tê, cũng không nên dùng nệm quá dầy. Một điều nên để ư, là thường thường lúc ban sơ, khi vừa ngồi kiết già hay nghe một chân nặng một chân nhẹ. Để sửa chữa vào khuyết điểm đó, chỉ có cách là dùng hai tay chống xuống chỗ ngồi để nâng toàn thể thân lên và hạ bên chân hay mông nhẹ xuống trước, bên nặng xuống sau, đôi ba lần thì hai chân hoặc hai mông sẽ đều, không còn cảm tưởng nặng nhẹ nữa.
Tay
Hai bàn tay để ngửa, bàn tay mặt th́ đặt lên trên bàn tay trái, vừa sát bụng và để nhẹ trên hai bàn chân, hai đầu ngón tay cái đâu lại (Tam muội ấn).
Phương pháp để bàn tay như vậy, theo Cổ Đức nói, làm cho điện lực trong thân lưu thông đều đặn, không biến thoát ra ngoài và giúp cho tâm dễ an ổn.
Lưng —Tay chân đều đâu vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể độ ba bốn lần cho nó được ung dung và phải giữ xương sống cho ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà. Nếu cột xiêu thì nhà đổ vậy.
Đầu, cổ — Đầu và cổ cũng phải giữ cho ngay, nhưng không được ngước thẳng quá.
Mắt — Mắt hơi nhắm lại, để chỉ còn thấy tướng trắng hay sáng sáng bên ngoài thôi; đừng mở hẳn sẽ tán loạn; mà cũng đụng nhắm hẳn sẽ bị hôn trầm.
Miệng — Miệng phải ngậm lại, chót lưỡi để trên chân răng hàm trên, răng phải để cho thong thả, đừng cắn cứng lại, nhờ đó hơi thở sẻ nhẹ nhàng.
2. Điều Tức
Khi thân đă nghiêm chỉnh rồi, lúc bấy giờ hành giả mới bắt đầu thở ra nhẹ nhàng nhưng cho dài, tâm nghĩ tất cả ô trược trong thân đều tựu theo không khí mà ra ngoài hết .Đến khi hít vô, cũng phải nhẹ nhàng và cho dài, nghĩ bao nhiêu cái chi thanh tịnh ở bên ngoài đều vào trong hết.
Làm như vậy được hai ba lần hay đến năm bảy lần nếu cần, cho trong thân được khoan khoái.
Sau đó phải giữ hơi thở nhẹ nhàng thong thả, suông êm, dài ngắn cho quân bình.
Nên để ý, khi điều ḥa hơi thở hành giả thường gặp hai lỗi sau đây.
a. Phong tướng. Tức là hơi thở ra hít vào, nghe có tiếng gió, do vì thở quá mạnh. b. Suyển tướng. Tức là tuy thở ra vào không nghe tiếng nhưng lại gấp rút hoặc rít sáp không thông.
Nếu khi ngồi tĩnh tọa mà thấy hai tướng trên đây, đó là triệu chứng tâm không được an định.
Nếu khéo điều nhiếp, dùng sổ tức thở ra hít vào thong thả, ít lâu sẽ thuần thục, tự nhiên hơi thở sẽ điều ḥa, huyết mạch được lưu thông, trong người sẽ được ung dung khoan khoái.
Thế nên điều ḥa hơi thở là một công phu rất hệ trọng đối với phép tịnh tọa.
3. Điều Tâm
Trước khi tọa thiền, hành giả có phát tâm trước, hoặc sổ tức, hoặc quán bất tịnh, hoặc niệm Phật v.v…
Nếu đă phát tâm niệm Phật, thì hành giả phải nghĩ Ta bà ngũ trược, nhớp nhơ, là nguồn gốc của muôn ngàn thống khổ, nơi thân và hiện cảnh, phải làm thế nào thoát ly cho được, tức là phải yểm ly sanh tử nơi Ta bà mà cầu sanh về Cực Lạc.
Hành giả nhớ ngay đến cảnh Cực Lạc thuần vui không khổ, có đủ thắng duyên thắng cảnh trợ lực cho hành giả mau thành Phật quả quảng độ chúng sanh, — đến đức Phật A Mi Đà tướng hảo quang minh, lúc nào cũng duỗi ḷng từ tiếp dẫn chúng sanh về Lạc Quốc.
Lúc bấy giờ hành giả khởi niệm câu dài : “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi tiếp dẫn Đạo Sư A Mi Đà Phật “ rồi lần lần thâu ngắn lại còn sáu chữ “Nam mô A Mi Đà Phật” hay bốn chữ:“A Mi Đà Phật” lúc đầu niệm lớn, sau niệm thầm để nhiếp tâm cho nó an trụ vào đó. Khi niệm ra tiếng hoặc thầm, đều cần phải gắng cho tiếng nổi rơ trong tâm chẩm răi, tâm ư nghe rơ từng tiếng từng chữ, tức là “Quán trí hiện tiền” nếu không, tâm sẽ tạp niệm (tán loạn) hay ngủ gục (hôn trầm). Nếu tán loạn, không rơ, lơ là, hay khi hôn trầm muốn đến hành giả phải cử tâm ngay bằng cách chú ý đến câu niệm Phật.
Có khi hành giả cố gắng kiềm tâm, nhưng tâm vẫn chạy và nếu tâm vẫn chạy măi, thì́ có cách phải niệm Phật và nghĩ ở đầu hai ngón tay cái, đầu hai ngón chân cái hoặc nghĩ ở nơi cái rốn mà niệm.
Làm như vậy thần kinh hệ sẽ hạ xuống, tức cái tâm sẽ hạ xuống mà bớt tán loạn.
Còn nếu bị hôn trầm, th́ phải nghĩ ở đỉnh đầu hay ở trán mà niệm thì sẽ hết, và ý chí phấn khởi.
Hoặc hành giả có thể niệm theo phương pháp “Thập niệm kư số” . "Thập niệm kư số” là khi niệm Phật, phải ghi nhớ rành rẽ từ một đến mười câu, hết mười câu liền trở lại một, cứ như thế xoay vần măi. Nhưng phải niệm trong ṿng mười câu mà thôi, không được hai mươi hoặc ba mươi câu, lại không được lần chuỗi và dùng tâm ghi nhớ. Có thể phân làm hai đoạn từ một đến năm, từ sáu đến mười. Hoặc còn thấy kém sức lại chia làm ba hơi, từ một đến ba, bốn đến sáu, bảy đến mười.
Cần để ý: niệm nhớ và nghe phải rõ ràng, vọng niệm mới không xen vào được.
Dùng phép này lâu sẽ được nhất tâm.
Điều tâm là pháp môn tu chủ chánh. Nếu có sự biến chuyển nơi thân, không nên để ý đến, mà phải chuyên tâm chánh niệm.
c) Phương pháp giải tọa (xả thiền)
Khi xả thiền, hành giả làm ngược lại tất cả, nghĩa là trước hết phải xả nơi tâm, kế xả nơi tức và sau cùng mới xả thân.
1.Xả Tâm. – Hành giả phải nhớ lại coi hiện giờ mình ngồi chổ nào , nảy giờ mình làm gì, nhớ coi mình có bị tán loạn hay hôn trầm không, và mặc dầu có hay không, cũng vẫn hồi hướng công đức về tây phương để trang nghiêm Tịnh độ.
2.Xả Tức. – Sau khi xả tâm xong, hành giả mở miệng thở ra vài hơi thật dài để cho khí nóng trong người giảm bớt và để hồi phục lại trạng thái bình thường như trước khi tĩnh tọa.
3. Xả Thân. – Tâm, tức điều xả xong, lúc bấy giờ hành giả se sẽ rao động nơi lưng và cổ, khi mạch lạc chạy đều, từ từ duổi hai tay ra, lấy hai bàn tay xoa nhè nhẹ với nhau, rồi xoa lên mắt, kế từ từ mở mắt. Sau đó uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng.
Tay và mắt xả xong, đến lượt xả hai chân. Trước hết phải lấy hai tay xoa hai bắp vế, rồi tháo lần lần hai chân ra, thoa hai bắp chuối và hai bàn chân. Khi nghe hai bàn chân nóng hết rồi, hành giả chuyển động nhè nhẹ toàn thân rồi đứng dậy, đi tới đi lui.
D) Những điều cần để tọa thiền có kết quả Hôn trầm, là một chướng trong việc tu thiền, thế nên thân phải bớt ngủ nghỉ. Phật dạy đầu hôm cuối đêm thì tham thiền, nửa đêm thì tụng kinh để tự tiêu tức, nhưng nếu mình không kham nổi thì nên bớt sự ngủ nghỉ. Ban đêm thì chỉ nghỉ ba canh, từ 11 giờ đến 4 giờ sáng thôi, đó là lời dặn của Cổ đức vậy. Còn nơi tâm thì phải có sự điều nhiếp theo ba cách dưới đây:
1. Không niệm tham dục.
2. Không niệm sân hận. Nếu thực hành hai cách này mà không đắc lợi trên đường chánh định, hành giả phải kiểm điểm lại nơi tâm có sanh tội lỗi chi không, hằng ngày phải nói lời dịu dàng, ḥa nhă cho tâm lắng xuống, đối với người và vật, giữ tâm cho mát mẻ và luôn luôn nhẹ nhàng.
3. Ngoài giờ tĩnh toạ phải giữ câu niệm Phật không rời tâm. Tâm tương ứng với chánh định phát ra khinh an, trong thân sẽ thấy khoan khoái. Thân tâm hiệp nhứt, thân cảnh không hai, lúc bấy giờ hành giả ở trong định vắng lặng sẽ thấy thân tướng Phật, nghe Phật thuyết pháp và những cảnh giới nhiệm mầu không sao kể xiết… Đó chính là tướng niệm Phật thiện căn phát hiện do nơi công phu tọa thiền niệm Phật thành công vậy.
HT Thích Trí Tịnh
( Tài liệu này chính Hòa Thượng Trí Tinh đă dạy cho sinh viên Tăng, Ni và cư sĩ nam, nữ tại Đại Học Vạn hạnh.)/* Ngọc Minh sưu tầm

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

THIỀN CÓ THỂ LÀM TĂNG CHẤT XÁM

Trong nghiên cứu công bố trên Tạp chí Neuro Image, các nhà nghiên cứu cho biết có các vùng nhất định ở não của những người hay hành thiền lớn hơn so với nhóm đối chứng tương tự. Cụ thể là, những người hay thiền, vùng não đồi thị (hay còn gọi là hải mã) có thể tích lớn hơn nhiều so với các vùng ở vỏ não OFC, vùng đồi não và vùng hồi thái dương - tất cả các vùng này điều khiển xúc cảm.

Con người có rất nhiều chiến lược để tạo ra cơ bắp lớn và bộ xương khỏe. Nhưng làm thế nào để tạo ra một bộ não lớn? Nhóm các nhà nghiên cứu từ trường Đại học California - Los Angeles (UCLA) đã sử dụng phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ với độ phân giải cao (MRI) để chụp não của những người hay hành thiền.

Trong nghiên cứu công bố trên Tạp chí Neuro Image, các nhà nghiên cứu cho biết có các vùng nhất định ở não của những người hay hành thiền lớn hơn so với nhóm đối chứng tương tự. Cụ thể là, những người hay thiền, vùng não đồi thị (hay còn gọi là hải mã) có thể tích lớn hơn nhiều so với các vùng ở vỏ não OFC, vùng đồi não và vùng hồi thái dương - tất cả các vùng này điều khiển xúc cảm.

Những người có những suy nghĩ kiên định thường có khả năng đặc biệt về duy trì những xúc cảm tích cực, duy trì trạng thái ổn định của xúc cảm và có hành vi lưu tâm. Eileen Luders, tác giả chính của báo cáo và là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Phòng thí nghiệm về Ảnh Neuro của UCLA cho biết, những khác biệt quan sát được nhờ giải phẫu não cho biết tại sao những người hay thiền có những khả năng đặc biệt này.

Nghiên cứu đã xác nhận những mặt có lợi của việc thiền. Ngoài việc tập trung tốt hơn và kiểm soát xúc cảm tốt hơn, những người hay thiền giảm mức độ stress và bảo vệ các hệ thống miễn dịch. Nhưng chúng ta ít biết đến mối liên hệ giữa thiền và cấu trúc của não.

Nhóm nghiên cứu của Luders đã kiểm tra 44 người thuộc 22 đối tượng kiểm soát và 22 người tham gia các hình thức thiền khác nhau, gồm tọa thiền Zazen, thiền Chỉ tịnh (Samatha) và thiền Minh Sát (Vipassana) cùng các dạng thiền khác trong thời gian từ 5-46 năm, trung bình là 24 năm. Hơn một nửa số người thiền cho rằng sự tập trung cao độ là phần chủ yếu của việc thiền, phần lớn họ thiền khoảng 10-90 phút mỗi ngày.

Các nhà nghiên cứu dùng phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ 3 chiều với độ phân giải cao và hai cách tiếp cận khác nhau để xác định những khác biệt trong cấu trúc não. Cách tiếp cận thứ nhất tự động tách não thành các vùng quan tâm khác nhau và các nhà nghiên cứu sẽ đo kích thước của các cấu trúc não. Cách tiếp cận thứ hai chia não theo hai dạng tế bào khác biệt, từ đó tiến hành đo lượng chất xám tại các vùng cụ thể của não.

Họ đã phát hiện những kích thước về não lớn hơn nhiều so với não của những người ở nhóm đối chứng, như thể tích vùng đồi thị bên phải lớn hơn và lượng chất xám ở vỏ não OFC, vùng đồi não phải và vùng thùy thái dương bên trái tăng lên. Với nhóm đối chứng, không có vùng nào ở não có lượng chất xám nhiều hơn so với nhóm người thiền.

Do các vùng ở não đều liên quan chặt chẽ đến xúc cảm, nên những phát hiện trên có thể tạo cơ sở về thần kinh học khiến cho những người thiền có khả năng đặc biệt điều chỉnh xúc cảm của họ và có những phản ứng được kiểm soát tốt.

Tác giả công trình cho biết những gì còn cần phải nghiên cứu thêm là những tương quan đặc biệt ở mức hiển vi - tức là liệu số nơ ron thần kinh có tăng lên hay không, kích thước lớn hơn của các nơ ron thần kinh hay các hình thức “liên kết” nhất định mà những người thiền có thể phát triển còn người bình thường thì không.
Nacesti (theo ScienceDaily, 9/2009)
(Nguồn: Vista. Ảnh minh họa: Hữu Thành.Ng)

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2010

Thiền Hành

TK Thích Phước Thái
Bước đi trong tĩnh lặng
Mỗi bước nhịp thở đều
Tâm an nhiên tự tại
Mầu nhiệm biết bao nhiêu.

Thiền hành còn gọi là thiền đi. Đi là một động tác vận động rất tốt cho cơ thể. Ngày nay, người ta khuyến khích và cổ động cho phương pháp đi bộ này. Đi bộ được coi là một bộ môn thể dục rất tốt cho sức khỏe, nhất là đối với những người cao tuổi cần phải tập đi thiền nhiều lần trong ngày. Ở đây, chúng ta đi thiền, ngoài việc vận động cơ thể ra, nó còn là một cách thực tập thiền rất dễ chịu và an lạc.

Thiền hành khác với kinh hành. Thiền hành là ta đi trong tĩnh lặng và sáng suốt. Không niệm Phật ra tiếng như kinh hành. Khi đi, ta giữ mỗi bước đi thật đều đặn, không cần đi nhanh lắm. Đi một cách thoải mái và tự nhiên. Phải đi trong tư thế vững chãi và thảnh thơi. Đi theo nhịp thở đều. Mỗi bước chân ta đi là một chữ của câu hiệu Phật. Như bước đầu là chữ Nam, bước kế là chữ Mô. Cứ như thế mà tiếp tục. Tâm ta gắn liền từng chữ của câu hiệu Phật theo mỗi nhịp bước chân. Không phải đợi đến khi thiền hành, ta mới thực tập như thế. Trong đạo tràng, nhất là trong những ngày tu học thọ bát, ta phải cố gắng thực tập cho mình có những bước chân đi vững chãi và thảnh thơi như thế.

Khi di chuyển đi đâu, dù chỉ vài ba thước, ta cũng phải tập đi thiền hay đi trong tịnh độ. Phương pháp tập đi thiền này, giúp cho ta có được một nội lực thật an bình và hạnh phúc hằng ngày. Hãy cố gắng thực tập ngay đi, thì chúng ta sẽ thấy sự hiệu nghiệm của nó. Đã lâu rồi, chúng ta thật sự chưa biết đi những bước đi hạnh phúc. Chúng ta đi trong phiền muộn, đi với những nỗi lo âu sợ hãi. Đi như một con ma đói đang bị hành hạ từng bước nặng trĩu khổ đau. Bây giờ, ta nhất định không còn những bước đi sầu khổ, tiêu cực, héo mòn đó nữa. Đi không mong tới và cũng không có dự án, tính toán trong đầu. Chính những thứ mong mỏi, dự án tính toán đã làm cho ta nhức đầu đau khổ nhiều rồi. Ta hãy mạnh dạn quăng hết những gánh nặng lo âu, tính toán đó, để cho những bước chân đi của ta thật sự thành những dấu ấn an lạc, vững chãi và thảnh thơi trên mặt đất.
(Sưu tầm trên mạng)

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Nghĩ về CÁI SỰ THIỀN

Tôi xin có vài ý về " Cái Sự Thiền" mà ta hay nghe nói.
1. Trên Thiền viên Yên Tử do Thầy Thích Thanh Từ thành lập là nơi đứng đầu trường pháo Thiền Trúc Lâm. Khi Thiền, không có đọc kinh phật, mà chỉ quán tưởng về hiện tại. Quan niệm cõi Phật ở ngay trong Tâm mỗi người, Phật ở trong Tâm. Tâm trong sạch, gạt bỏ được 5 cái tham lam, thì hạnh phúc sẽ tới, không phải đợi đến khi chết mới về cõi niết bạn với Phật A Di Đà. Thầy Thích Nhất Hạnh ở Paris cũng dạy như vậy. Thiền trong từng hơi thở, trong từng bước đi, trong khi ăn, uống, để suy nghĩ quay về hiện tại , nghĩ sâu sắc về từng việc làm của hiện tại, không bị tương lại lôi cuốn ( vì tương lại thì chưa tới), không bị quá khứ dầy vò ( vì quá khứ thì đã qua)...Sống như vậy sẽ thấy quanh ta là hạnh phúc, là cõi cực lạc không phải tìm đâu xa.
2. Thiền Tông trong Đạo Phật, khác với Tịnh Độ Tông. Tịnh Độ Tông yêu cầu đọc kinh Phật khi thiền, nhằm hướng tâm mình theo giáo lý nhà Phật mà tu tập.
3. Sự thiền nói ở trên trong đạo Phật, khác với cách Thiền trong Yoga( quán hơi thở), thiền trong khí công( quán luồng khí chạy trong cơ thể tới từng bộ phận),
4. Nhiều cách thiền khác nhau, nhưng có 1 điểm chung duy nhất: Tập trung ý nghĩ vào 1 việc duy nhất, gạt bỏ mọi tạp niệm. Vì thế , nhiều cách gọi tên khác nhau của "Sự Thiền" chỉ là vì tập trung suy nghĩ của mình vào những việc khác nhau .
5. Nhưng cũng có 1 sự thiền khác với những điều nói trên: đó là sự thiền đạt tới trạng thái đầu óc trống rỗng, không hề có bất cứ luồng suy nghĩ gì, còn gọi là trạng thái đầu óc "Chân Không", hay "Tâm Không Vô Thức".
Ông Nguyễn Đình Phư, chủ nhiệm CBE, cho rằng nếu đạt được trạng thái này, thì cơ thể con người sẽ nhận được năng lương vũ trụ ở mức cao nhất.
6. Thiền Lửa Tam Muội có đặc điểm gì ?
-Giai đoạn đầu học viên quán tưởng năng lượng vào các luân xa...
Rồi NL vào lục phủ ngũ tang, vào "Cửu Khiếu" ( 9 cái lỗ cơ thể). Tiếp theo là quán tưởng dòng năng lượng chạy theo mạch nhâm lên đầu ( Âm Thăng), rồi theo mạch đốc xuống chân ( Dương giáng). Cái sự thiền này giống như thiền trong khí công ( "lấy ý dẫn khí").
- Giai đoạn tiếp theo Thiền Lửa Tam Muội do thầy Hùng hướng dẫn cũng yêu cầu học viên " Tâm Không Vô Thức", cảm nhận cơ thể mình trong xuốt như pha lê, xung quanh mình bao trùm bởi lửa Tam Muội, mình như đang ngồi trong 1 lò lửa tam muội...
Trong bài thiền " Thiên Địa Nhân hợp nhất" , thì giai đoạn này, học viên quán tưởng dòng thiên khi từ các vì tinh tú đang chẩy vào cơ thể quan luân xa ở đỉnh đầu ( LX7), dòng địa khí đang vào cơ thể qua luân xa 1, hai dòng khí hoà nhập với cơ thể thành 1 khối thống nhất. Cơ thể mình với vũ trụ hoà quyện thành 1 khối thống nhất...Cảm nhậ thây cơ thể như bay bổng trong không gian vũ trụ mênh mông...Những cảnh giới đẹp đẽ của thiên nhiên, của vũ trụ hiện lên trong tâm trí...
Tóm lại:
1. Thiền kiểu gì cũng là để rèn tâm trí mình không bị rối loạn những suy nghĩ về tương lại, về quá khứ...mà nên biết, nên thấy những hạnh phúc của hiện tại. Hiện tại chứa đựng đầy đủ những điều tốt đẹp thiên nhiên đã ban tặng cho con người: không khí trong lành, ánh sáng rực rỡ, cây cỏ hoa lá tươi đẹp, chim muông ríu rít ca hát, những " Ngọc Thực" nuối sống ta hàng ngày...
Sống như vậy là cách rèn luyện Cái TÂM trong sáng, lành mạnh.
2. Có cái tâm tốt, còn cần có " Cái Thân" khoẻ mạnh, không bệnh tật. Bởi vậy, tu luyện Thiền tốt rồi, chớ quên " Luyện Thân" cho tốt.

Một tâm hồn trong sáng, trong một cơ thể khoẻ mạnh mới là sự kỳ diệu của Hạnh Phúc.
LÂM PHÚC 15.4.2010

Bàn về THIỀN CÙNG YOGA

LÂM PHÚC bàn:
THIỀN CÙNG YOGA là một hướng rèn luyện nhằm tới cả 2 mục đích: LUYỆN TÂM + LUYỆN THÂN. Đây hẳn là 1 phương hướng rèn luyện rất hay. Tôi vần thường ngày đi theo hướng này, vì quan niệm rõ ràng: HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC LÀ PHẢI CÓ ĐƯỢC 1 TÂM HỒN TRONG SÁNG TRONG 1 CƠ THỂ KHOẺ MẠNH.


Vấn đề là LUYỆN TÂM NHƯ THẾ NÀO & LUYỆN THÂN NHƯ THẾ NÀO cho phù hợp với mình ? Mỗi một lứa tuổi, mỗi một hoàn cảnh cần có nội dung rèn luyện thích hợp. Điều đó tuỳ thuộc vào cách lựa chọn của bạn. Tôi nghĩ thế.
Không thể yêu cầu người nhiều tuổi luyện YOGA như thanh niên được.


Về LUYỆN TÂM là thực hành thiền. Trong youga cũng có thiền. Trong Đạo Phật cũng có thiền ( Phái THIỀN TÔNG); Thầy Tổ DASIDA NARADA dạy ta thiền Lửa Tam Muội...Ta chọn cách thiền nào ?


Thiền nào cũng tốt đẹp , nhưng theo tôi lựa chọn THIỀN LỬA TAM MUỘI là hay hơn cả, vì:
- cho phép MỞ NHIỀU LUÂN XA VÀ THU NĂNG LƯỢNG VŨ TRỤ VÀO CƠ THỂ QUA CÁC LUÂN XA ĐÃ MỞ để thanh lọc cơ thể, đẩy lùi bệnh tật. Cách thiền này hơn hẳn các cách thiền khác Ở ĐIỂM CHÍNH YẾU NÀY.
Ngày nay, có thầy còn dạy ta không những mở hết các luân xa truyền thống (mạch đốc, mạch nhâm) mà còn KHAI MỞ NHIỀU HUYỆT ĐẠO trong cơ thể để thu năng lượng. Ví dụ các huyệt đạo tương ứng với PHỔI VÀ ĐẠI TRÀNG; THẬN VÀ BÀNG QUANG; GAN VÀ THẬN, TIM VÀ RUỘT NON, LÁ LÁCH VÀ DẠ DẦY...
Bản thân tôi đã thử rồi: khi huyệt đạo được khai mở, thì con lắc cảm xạ báo năng lượng đang xoáy vào cơ thể (quay theo chiều kim đồng hồ). Huyệt chưa khai mở, thì NL không vào theo huyệt đó (con lắc quay ngược kim đồng hồ).
- Thiền Lửa Tam Muội cũng mang đầy đủ ưu điểm khác của Thiền trong Phật giáo ( hiền định), thiền trong khí công (quán tưởng luồng NL chạy trong cơ thể, chạy ra chân, ra tay...) v.v..
Vì lẽ đó, tôi cho răng THIỀN LỬA TAM MUỘI LÀ ƯU VIỆT .


VỀ LUYỆN THÂN: Tôi thấy YOGA dạy ta 1 phép luyện thân tuyệt vời. Bản thân tôi đã từng học phép chữa bệnh bằng TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG của lương y NGUYỄN THAM TÁN.
Cách chữa bệnh này dựa trên nguyên lý: Cột sống là trung tâm thần kinh thứ 2 sau đầu não. Vì thế tác động vào cột sống là có thể chữa được bệnh tật thông qua hệ thống thần kinh dọc cột sống này. Cách chữa bệnh này rất kỳ diệu..
YOGA dạy ta rất nhiều động tác, nhưng tôi thấy đa phần động tác là rèn luyện cái xương sống. Điều này rất phù hợp với quan niệm của trường phái TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG: Xương sống con người vô cùng quan trong trong việc gIữ gin sức khoẻ.


Tôi đã lựa chọn khoảng 12 đông tác rèn luyện cột sống của YOGA và của bài tập SUỐI NGUỒN TƯƠI TRẺ để tập hàng ngày. Ngoài ra không quên đi bộ + một số động tác thể dục thể thao khác.


Tóm lại: thiền cùng yoga là một hướng vừa luyện TÂM, vừa LUYỆN THÂN rất tốt đẹp.
Vấn đề chinh là sự lựa chọn của bạn : Thiền kiều gì và tập Yoga như thế nào cho phù hợp với bạn.
LÂM PHÚC- NGUYỄN SƠN TÙNG 31.5.2010

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2010

THIỀN LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP TỰ CHỮA BỆNH

Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.
Nguồn gốc của Thiền
Từ Thiền của Việt nam hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ "Ch’an" của Trung hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức… Vào giai đoạn này, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ "Meditation" để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn “Mederi" với từ "Medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.
Thiền là liệu pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể
Đối với y học phương Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh chỉ được Cullen nói đến vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm 1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống Stress ở Montreal, Canada đã chính thức dùng thuật ngữ Stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây, trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, lại là những người có khuynh hướng duy tâm, thường hướng nội và phản quán, các nhà y gia cổ đại của phương Đông đã sớm nhận ra ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người. Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh đã ghi nhận "bách bệnh giai sinh vu khí". Người xưa cho rằng những cảm xúc thái quá sẽ làm rối loạn khí hóa của những tạng phủ tương ứng và qua mối quan hệ sinh khắc sẽ dẫn đến sự mất quân bình của cả hệ thống. Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những bệnh về nội thương. Ví dụ những người quá suy tư căng thẳng thường ăn uống kém ngon, dễ rối loạn tiêu hóa. Điều này xảy ra vì sự suy tư quá độ làm ảnh hưởng đến khí hóa của tỳ vị vì "Tư thương Tỳ". Hơn nữa, sự căng thẳng lâu ngày làm Can khí uất kết có thể dẫn đến loét dạ dày, tá tràng, triệu chứng mà Đông y thường gọi là "Can phạm Vị". Đôi khi những rối loạn khí hoá do cảm xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh lý có thể thấy được ngay. Thử quan sát một người đang bộc phát cơn tức giận. Toàn thân nóng lên, mồ hôi vả ra, nhịp tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như căng lên. Ở một số người khác cơn nóng giận có thể làm cho toàn thân ngứa ngáy, đau thắt ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao tử. Đó là một trường hợp điển hình về rối loạn khí hóa do cảm xúc. Trong trường hợp nêu trên, Đông y cho rằng “Nộ thương Can", sự tức giận đã làm cho Can khí nghịch hành, dẫn đến các triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh, thuộc Dương chứng. Trên thực tế, nếu bản thân không có các bệnh thực thể gì khác, chúng ta chỉ cần thực hành thư giản để sơ tiết Can khí hoặc chú tâm quan sát hơi thở vào và ra để đạt đến tâm bình, khí hoà hoặc chuyển tâm nghĩ đến một sự kiện vui vẻ đã xảy ra trong đời để khí của mẹ là Can Mộc được tiết bớt sang cho con là Tâm Hỏa (sự vui vẻ thuộc Tâm Hỏa và Mộc sinh Hỏa) thì các triệu chứng trên sẽ tự biến mất. Đó là ví dụ về những cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ bản thân.
Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư đại học Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind-Body Medical Institute) cho biết "từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên quan đến Stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể". Ông cho rằng các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa các nội tiết tố Stress.
Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt của thuật ngữ "Mindfulness Based Stress Reduction", tạm dịch là "giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác". MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.
Thiền là một liệu pháp chỉnh thể
Thiền là một truyền thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy đủ tính chất “chỉnh thể" và "Trời người hợp nhất" của nền y học cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể. Chẳng hạn, ở một bệnh nhân loét dạ dày, liệu pháp chỉnh thể sẽ lưu ý giải quyết tình trạng thấp nhiệt ở dạ dày hoặc căng thẳng tâm lý trong sinh hoạt để cải thiện khí hoá ở Tỳ vị hơn là cố tìm một loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn gây loét. Ở những chứng viêm mũi mãn tính, Đông y cho rằng do Âm hư gây ra Hỏa vượng. Do đó cách chữa phải đặt nặng việc bổ thận để nạp khí, bổ Âm phải tàng Dương, hơn là chỉ dùng những chất hàn lạnh để trừ hư Hỏa. Dù hư Hỏa có tạm được khống chế nhưng nếu làm trầm trọng thêm sự mất quân bình Âm Dương hoặc suy sụp thêm sức đề kháng thì bệnh không thể dứt được… Nói chung, theo quan điểm này thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác. Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.
Nói chung trong quá trình hành Thiền, "thần tĩnh tức âm sinh", tâm không duyên ra ngoài sẽ giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với tinh thần "nhiếp sinh" của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những điều kiện thay đổi của môi trường sống.
Liệu pháp Thiền và những suy nghĩ tích cực
Khi xem một vở kịch tốt hoặc một phim hay, trong những lúc cao trào, ta thường bị thu hút vào vở diễn hoặc vai diễn. Thương cảm, rơi lệ hoặc bức xúc, tức giận,… Trong những phút giây đó, không chỉ người diễn viên mà cả người xem đều đã như hóa thân thành một người khác chứ không còn là người diễn viên hoặc bản thân chúng ta của những lúc bình thường. Những truyền thống tư tưởng phương Đông đều quan niệm thân và tâm là một thể thống nhất. Suy nghĩ và cảm xúc luôn tác động đến phần thể xác. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn cả nhận thức và từ nhận thức sẽ dẫn đến hành động. Chính những cảm xúc và nhận thức lâu ngày đã hình thành nên tập tính và tình trạng sức khỏe ở mỗi người. Do đó có thể nói mỗi người chính là những điều mà người đó suy nghĩ. Mỗi người trong chúng ta vì những lý do khác nhau đã vô tình bị tập nhiễm một số hành vi mà chúng ta không muốn nhưng đã không thể cưỡng lại được. Kỹ thuật tự ám thị (auto-suggestion) thông qua thiền định có thể giúp cải thiện tình trạng này. I.P. Paplov một nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã chứng minh rằng mọi phản xạ thần kinh dù cao hay thấp, mọi thói quen, quá trình rèn luyện, học tập, lao động đều là những quá trình hình thành nên những phản xạ. Trong hành Thiền, việc hóa thân, việc đồng nhất hóa với một sự vật mới, một ý niệm mới hoặc một con người mới đã được tái hiện liên tục và nhiều lần trong một điều kiện tâm lý đặc biệt. Điều kiện tâm lý đặc biệt chính là tình trạng thư giãn hoặc nhập tĩnh khi mà não trở nên nhạy cảm khác thường trong việc tiếp nhận và hoạt hóa những thông tin liên quan, đến những ý niệm hoặc hình ảnh được gợi ra. Nói cách khác, khi ở vào tình trạng thư giãn ta có thể dùng lời nói hoặc những hình ảnh tưởng tượng thích hợp để cải thiện những tình trạng tâm lý hoặc vật lý của cơ thể, những điều mà trong điều kiện bình thường ta không thể thực hiện được. Hiệu ứng này thường được vận dụng trong các phương pháp dưỡng sinh, khí công, thôi miên, tự ám thị và cả trong nhiều nghi thức tôn giáo. Ví dụ, bình thường ta không thể ra lệnh hoặc tự nhủ để nhịp tim chậm lại hoặc huyết áp giảm xuống. Tuy nhiên, trong điều kiện thư giãn hoặc lúc thiu thiu ngủ nếu ta "thấy" hoặc "nghĩ" rằng tim đang đập chậm lại hoặc huyết áp đang hạ xuống thì tần số tim sẽ giảm và huyết áp sẽ hạ. Hãy lưu ý từ "thấy" mà không phải là "nhìn". Từ "thấy" hoặc "nghĩ" ở đây hàm nghĩa không có sự phân tích hoặc cố gắng về mặt ý thức. Đây là một nguyên tắc quan trọng của Thiền cũng như của sự tự ám thị. Nguyên tắc này có thể được gọi một cách vắn tắt nhưng khá chính xác là sự tập trung không căng thẳng. Tập trung vào một từ khóa, một câu ám thị, hoặc một cảnh vật… nhưng phải ở trong điều kiện tĩnh lặng và không căng thẳng. Chính sự tĩnh lặng và không căng thẳng giúp duy trì tình trạng nhập tĩnh đồng thời nâng cao tính nhạy cảm trong việc tiếp nhận và hình thành nên những cung phản xạ mới. Về mặt khoa học, nhập tĩnh ứng với tình trạng cơ bắp thư giãn hoàn toàn và sóng não hạ thấp từ nhịp Beta nhanh và không ổn định xuống nhịp Alpha hoặc Theta chậm và ổn định hơn. Trong điều kiện này bất kỳ sự căng thẳng nào kể cả sự căng thẳng của quá trình chú ý (chẳng hạn phân tích, lý luận về vấn đề đang chú ý) đều sẽ làm thay đổi sóng não và phá vỡ sự nhập tĩnh. Chính sự tự ám thị trong điều kiện thư giãn hoặc gần nhập tĩnh giúp thúc đẩy nhanh quá trình hình thành nên những cung phản xạ mới cho yêu cầu chữa bệnh hoặc cải thiện hành vi, nhân cách. Ở nhiều bệnh nhân mắc những bệnh mãn tính đã trãi qua điều trị lâu dài, tính trầm trọng không phải ở chính căn bệnh mà ở tâm lý chán nản, trầm uất. Tâm lý này phát xuất từ suy nghĩ mình là gánh nặng của gia đình hoặc do thiếu niềm tin vào thầy, vào thuốc. Yêu cầu điều trị trong những trường hợp này là phải giải tỏa được trầm uất và tăng cường niềm tin sẽ khỏi bệnh. Đó là lý do tại sao thiền và những suy nghĩ tích cực lại hữu hiệu trong hầu hết những bệnh kinh niên. Với liệu pháp thiền, có thể nói người bệnh chính là thầy thuốc và sức miễn dịch được nâng lên chính là thuốc chữa bệnh.
Sau đây là một vài thí dụ về sự phối hợp giữa thư giãn & Thiền và những suy nghĩ tích cực:
Để đạt được mục đích thư giãn và bình an cho tâm trí, người tập có thể nghĩ đến những cảnh quang mà mình ưa thích hoặc đã từng trãi qua. Rừng thông bạt ngàn, gió thổi vi vu. Bãi cát trắng xóa, sóng biển nhấp nhô. Cánh đồng lúa rì rào, gió thổi mơn man. Cảnh núi non hùng vĩ, thác nước trắng xóa,… Nằm hoặc ngồi thoải mái ở một nơi yên tĩnh, thoáng mát. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa, thì thở ra chậm và dài hơn thì hít vào. Tập trung tư tưởng nghĩ đến cảnh quang đã định. Hình dung rõ ràng quang cảnh như đang hiện ra trước mắt mình. Lặng lẽ quan sát để từ từ tiến đến dung hợp giữa người và cảnh, thấy mình hòa tan vào cảnh hoặc quên đi bản thân mình.
Để gia tăng nội khí hoặc để điều trị các chứng hư Hỏa gây căng thẳng, nhức đầu, khó ngủ, hồi hợp,… có thể tập trung vào bụng dưới. Ngồi bán già hoặc kiết già. Lưng thẳng. eo hơi thót lại. Cằm hơi thu vào. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Buông lỏng phần vai và hai tay. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa. Tập trung tâm ý quán tưởng khắp chung quanh mình đang có gió nhẹ thổi vào vùng bụng dưới.
Để chữa bệnh, trị đau nhức, để làm tan một chỗ bị sung huyết hoặc một tổ chức bị u xơ, có thể quán hơi thở vào và ra. Hít vào sâu đến bụng dưới. Thở ra chậm, nhẹ và đều. Trong lúc thở ra tập trung ý quán một luồng trược khí màu xám từ chỗ bị đau theo hơi thở thoát ra các đầu ngón chân (nếu ở vùng hạ thể) hoặc đỉnh đầu, hoặc những đầu ngón tay (nếu ở vùng thượng thể). Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng vật lý của những suy nghĩ tích cực. Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của Bác sĩ Carl Simonton về điều trị ung thư. Ông hướng dẫn cho bệnh nhân thư giãn và hình dung những bạch cầu của họ là những chiến sĩ "tìm và diệt". Đội quân dũng mãnh đã chiến đấu, chiến thắng và mang đi các tế bào ung thư đã chết. Công trình nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho kết quả 25% hoàn toàn khỏi bệnh, 30% ung thư ngừng phát triển, và ở 10% khác khối u ung thư bắt đầu nhỏ dần.
Ông Emile Coue (1857-1926), một chuyên gia điều trị tâm lý người Pháp là người đã từng hướng dẫn và điều trị cho hàng chục ngàn bệnh nhân bằng phương pháp ám thị và tự ám thị. Đến với ông có thể là những người bị mất ngủ, hoảng loạn, nói lắp, nghiện thuốc, béo phì, động kinh, suyển và cả những bệnh nhân tim mạch, tiểu đường, u xơ, viêm khớp. Ông đã đề xuất một công thức ám thị đơn giản chung cho nhiều trường hợp khác nhau, để điều chỉnh hành vi hoặc để thay đổi những điều kiện tâm lý, vật lý cho việc cải tạo sức khỏe. Nguyên văn câu ám thị là "Tous les jours a tous points de vue, je vais de mieux en mieux" đã được chuyển sang Anh ngữ “Day by day, in every way, I am getting better and better", tạm dịch "Mỗi ngày qua, tôi tốt đẹp hơn lên về mọi phương diện". Ông khuyên người bệnh thực hành ám thị hai lần mỗi ngày. Mỗi lần tự nhẩm 20 lần câu ám thị nêu trên. Cần làm một xâu chuỗi có 20 hạt để lần chuỗi tương ứng với 20 lần nhẩm niệm. Việc lần chuỗi vừa bảo đảm đủ số cần niệm, vừa có tác dụng tạo thêm phản xạ có điều kiện cho những lần sau. Thực hành lúc vừa thức dậy, sắp sửa xuống giường và liền trước khi nằm xuống ngủ. Đây là những lúc mà chúng ta còn ngái ngủ hoặc buồn ngủ. Do đó khi đã nhắm mắt và tập trung vào câu ám thị thì tâm chỉ tồn tại có ý niệm đó, những tạp niệm rất khó xen vào. Về mặt thần kinh, những thời điểm này gần giống như lúc chúng ta luyện tập thư giãn hoặc chuẩn bị nhập tĩnh nên cũng là lúc tốt nhất để tiếp nhận những thông tin tích cực cho việc tạo nên những cung phản xạ mới.
LƯU Ý:
Kết quả hành Thiền sẽ khác nhau do khả năng tập trung tư tưởng của mỗi người. Điều này tùy thuộc vào căn cơ và các điều kiện trợ duyên khác như chế độ ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp… Thiền được xem là một liệu pháp bổ sung được dùng song hành với các biện pháp chữa bệnh chính thống khác. Do đó việc gia giảm hoặc thay thế các loại thuốc trong việc điều trị phối hợp với Thiền cần theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.
Theo Y Khoa. Net

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH

 Nguồn ảnh: Internet
Hiện nay, nhiều người khắp nơi trên thế giới, bất luận tôn giáo nào, đã ý thức về những lợi ích có được qua thiền định. Mục đích chính yếu của thiền định là đào luyện tâm và dùng nó càng lúc càng hiệu quả trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
Cứu cánh của thiền định là nhằm vào sự giải thoát khỏi bánh xe luân hồi vòng sinh tử. Mặc dù đó là một công việc khó nhất, nhưng những lợi ích tích cực có thể đạt được ngay hiện tại, nếu ta coi trọng với thiền định. Thật thích đáng để nhắc lại những gì đã được đề cập trước: Ta không nên bị nô lệ bởi những triển vọng của các điều lợi ích này và mất đi tầm nhìn về mục đích xác thực của thiền định Phật giáo. Những lợi ích của thiền định có thể được tóm lược như sau:
1- Nếu bạn là người bận rộn, thiền định có thể giúp bạn buông bỏ căng thẳng và tìm đến sự thư thả.
2- Nếu bạn là một người lo âu, thiền định có thể làm bạn bình tĩnh và tìm đến tâm an bình.
3- Nếu bạn là một người có vô tận những vấn đề, thiền định có thể giúp bạn phát triển lòng can đảm và nghị lực để đối mặt và khắc phục chúng.
4- Nếu bạn thiếu tự tin, thiền định có thể giúp bạn thu được tự tin vốn là bí quyết thành công trong đời sống.
5- Nếu bạn có tâm lo sợ, thiền định có thể giúp bạn thấu hiểu thực chất của những vấn đề khiến bạn hoảng loạn – lúc đó bạn có thể khắc phục tâm lo sợ.
6- Nếu bạn luôn luôn bất mãn với mọi sự và không có gì trong đời sống làm bạn thỏa mãn - thiền định có thể cho bạn cơ hội để phát triển và duy trì sự hài lòng với chính mình.
7- Nếu bạn hoài nghi và không quan tâm đến cách sống đạo lý, thiền định có thể giúp bạn vượt qua thái độ hoài nghi và thấy vài giá trị thực tiễn trong hướng dẫn đạo pháp.
8- Nếu bạn thất bại và khổ sở do thiếu hiểu biết về tình trạng bấp bênh của đời sống và thế giới, thiền định có thể thực sự hướng dẫn và giúp bạn hiểu biết tính phù du của các pháp thế gian.
9- Nếu bạn là người giàu, thiền định có thể giúp bạn nhận chân bản chất sang trọng cao cả của bạn và cách sử dụng nó không những vì chính hạnh phúc của bạn mà còn vì hạnh phúc tha nhân.
10- Nếu bạn là người nghèo, thiền định có thể giúp bạn phát triển sự tri túc và không dung dưỡng lòng ganh tỵ với những người có nhiều hơn bạn.
11- Nếu bạn là một thanh niên ở bước ngoặc của cuộc đời, và bạn không biết rẽ về đâu, thiền định có thể giúp bạn tìm thấy chánh đạo để đi đến mục đích đã chọn được.
12- Nếu bạn là một người đứng tuổi, chán ngán cuộc sống, thiền định có thể mang lại cho bạn sự hiểu biết cuộc sống sâu sắc hơn; sự hiểu biết này lần lượt sẽ làm vơi đi những nỗi đau của bạn và gia tăng niềm vui sống.
13- Nếu bạn nóng tính, bạn có thể phát triển sức mạnh để khắc phục nhược điểm của tính nóng nảy, thù hận để trở thành người điềm tĩnh hơn.
14- Nếu bạn ganh tỵ, bạn có thể hiểu rằng những thái độ tinh thần tiêu cực không bao giờ đóng góp bất cứ điều gì cho lợi ích của bạn.
15- Nếu bạn không thể giảm tham ái đối với các dục lạc, bạn có thể học cách trở thành người làm chủ những dục lạc của bạn.
16- Nếu bạn nghiện rượu hoặc ma túy, bạn có thể khắc phục thói quen nguy hiểm đã từng làm cho bạn nô lệ.
17- Nếu bạn là người hẹp hòi, bạn có thể phát triển trí sáng suốt, nó sẽ mang lại lợi ích cho bạn, bằng hữu và gia đình của bạn, và tránh sự hiểu lầm.
18- Nếu những cảm xúc tác động mạnh mẽ nơi bạn, chúng sẽ không có cơ hội để làm cho bạn lầm đường lạc nẻo.
19- Nếu bạn khổ sở từ những hỗn loạn như những chứng suy nhược thần kinh và xáo trộn tinh thần, thiền định có thể làm khơi dậy những năng lực tích cực trong thâm tâm bạn để phục hồi sức khỏe, đặc biệt nếu chúng thuộc về những vấn đề thần kinh.
20- Nếu bạn là người nhu nhược hoặc là người duy trì tính phức cảm tự ty, thiền định có thể củng cố nội tâm bạn để phát triển lòng can đảm và khắc phục sự nhu nhược.
21- Nếu bạn là người sáng suốt, thiền định sẽ hướng dẫn bạn đến trí tuệ cao siêu. Lúc đó bạn sẽ thấy chân tướng của các pháp, và không còn thấy theo vẻ ngoài nữa.
Đây là một vài lợi ích thực tiễn xuất phát từ việc thực hành thiền định. Những lợi ích này không phải để bán trong bất cứ tiệm buôn hoặc cửa hàng bách hóa nào. Nhưng bạn có thể phát triển chúng qua thiền định của bạn. Tâm là chìa khóa mở cửa hạnh phúc và cũng là chìa khóa mở cửa khổ đau. Hiểu và khéo dùng tâm là công việc hơn hẳn đời sống thanh bình và tự mãn.
(trích dịch Meditation The Only Way- K. Sri Dhammananda )

* Lời người dịch: “Sự thanh thản của đời sống vật chất và ngay cả những mức độ thiền chỉ là những lợi ích cần thiết, nhưng thiền định còn tiến xa hơn, tức là giải thoát tất cả chấp thủ.”
*Việt dịch: Pundariko

Lời bàn: Ở Câu lạc bộ của chúng tôi, thiền giúp chúng tôi điều chỉnh được bệnh tật, hạn chế dùng thuốc trong những trường hợp không cần thiết. Thiền giúp chúng tôi có thêm nghị lực, tin tưởng vào bản thân, vượt qua được chính mình, sống vui vẻ và yêu đời.

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2010

THIỀN QUA CÁI NHÌN CỦA ĐÔNG Y


Thử nhìn xuống một hồ nước. Khi mặt hồ yên tĩnh, trong xanh ta dễ dàng nhìn rõ được mọi vật dưới đáy. Trái lại, khi làn nước gợn sóng, hình ảnh sẽ bị phản chiếu lệch lạc. Bộ não con người cũng giống như vậy. Khi tinh thần yên tĩnh, tập trung, tâm trí sẽ sáng suốt. Trái lại, khi có tạp niệm xen vào hoặc lúc lo âu căng thẳng, sự phán đoán sẽ kém chính xác.


Sự căng thẳng sẽ làm mệt bộ não, cơ thể tiêu phí nhiều năng lượng mà việc giải quyết công v
iệc lại kém hiệu quả. Một sinh viên thiếu tập trung sẽ khó tiếp thu bài giảng. Một công nhân đứng máy lơ đểnh sẽ dễ mắc tai nạn lao động. Một nhà nghiên cứu mà tinh thần không ổn định sẽ khó có thể hoàn thành công trình của mình.

Ngoài ra, trong điều kiện phát triển của nền văn minh công nghiệp với tính cạnh tranh cao, con người luôn phải đối mặt với nhiều loại áp lực thì việc phải gánh chịu stress làm giảm sức đề kháng và dễ dẫn đến nhiều bệnh tật là điều đáng lo ngại. Từ những thực tế này nhiều người đã tìm đến với thiền.
Có nhiều phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp người luyện tập nhằm đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ ý niệm nào.

1. Tư thế:

Có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già. Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được.


Tư thế kiết già (thế hoa sen), đặc biệt thích hợp cho việc ngồi thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn tay nắm bàn chân phải từ từ gấp chân lại và đặt bàn chân lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng bàn chân ngửa lên trời. Kế tiếp dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân vào sát bụng, bàn chân ngửa lên trời.


Các đạo sư Yoga cho rằng vị thế khóa nhau của hai chân trong tư thế kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa ở dưới cùng của cơ thể, khiến dòng năng lượng có khuynh hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực dọc theo cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh. Những thí nghiệm khoa học về Yoga cho thấy chỉ cần ngồi tư thế hoa sen, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một sự thay đổi ở sóng não từ nhịp Beta khoảng 20 chu kỳ mỗi giây xuống nhịp Alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây. Nhịp Alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh mẫn. Điều nầy có nghĩa là tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh chưa kể đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền.


Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận của y học cổ truyền khi biết rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng chân trái đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao ở chân phải (huyệt Tam âm giao ở chỗ lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng 6cm). Như vậy, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt Tam âm giao sẽ được kích thích liên tục.

Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Tỳ, Can và Thận nên tác động kích thích này sẽ có tác dụng "thông khí trệ", "sơ tiết vùng hạ tiêu" và điều chỉnh những rối loạn nếu có ở những kinh và tạng có liên quan, đặc biệt là tác dụng "Dưỡng âm kiện Tỳ" và "Sơ Can ích Thận" mà các thầy thuốc châm cứu đều biết khi tác động vào huyệt này. Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, những bệnh nhân "Âm hư hỏa vượng" hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều và những phụ nữ đang ở tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận được hiệu quả khi ngồi vào thế kiết già.


2. Giảm các kích thích giác quan:

Một trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu. Người xưa gọi là "bế ngũ quan". Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy chỉ cần nhắm mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50% các kích thích từ bên ngoài. Do đó, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt.

3. Giãn mềm cơ bắp:

Ngày nay, khoa học đã biết rất rõ tác động qua lại giữa 2 yếu tố thần kinh và cơ. Khi thần kinh căng thẳng, trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Ngược lại, nếu điều hòa trương lực cơ bắp ở mức thư giãn thì thần kinh cũng sẽ được ổn định. Chúng ta dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát một người đang giận dữ. Khi tức giận, gân cổ nổi lên, cơ bắp căng cứng, bàn tay nắm chặt...; đó là lúc thần kinh quá căng thẳng.

Ngược lại, hãy nhìn một người đang ngồi ngủ gật trên xe. Lúc người này thiếp đi là lúc thần kinh ở mức thư giãn, tâm không còn ghi nhận ý niệm gì cụ thể và cơ bắp cũng giãn mềm nên đầu dễ dàng ngoẹo sang một bên. Vì vậy, trong quá trình hành thiền, việc chủ động giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.
Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ bàn tay là đủ.

Điều này căn cứ vào hai quy luật: Thứ nhất, mặt và hai bàn tay là những vùng phản chiếu có các điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể, do đó nếu thư giãn được vùng mặt hay hai bàn tay sẽ thư giãn được toàn thân.
... Thiền chính là sự tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào.

Để thư giãn thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình trạng tập trung vào điểm hoặc vào đề mục tập trung trong một thời gian nhất định là đủ. Điều quan trọng là nên tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau một thời gian, khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền thì việc ngồi vào tư thế, nhắm mắt, việc đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp sẽ hình thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập vào trạng thái thiền định....


Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào. Điều này là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại. Lâu dần, những tạp niệm bớt đi, thời gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ hơn, cho đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi thở. Nếu thường xuyên đạt đến tình trạng này, có nghĩa người tập đã tiến được một bước rất dài. Không chỉ là không bệnh tật mà còn là sự tự tin, cảm thông và hoà hợp để dần dần đạt đến điều mà người xưa gọi là thiên nhân hợp nhất.


4. Xả thiền:

Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông thõng hai chân. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.
Việc xả thiền tùy thuộc vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.

*Theo Lương Y Võ Hà
*Source : Trang Web Sống Vui Sống Khỏe
http://songvuisongkhoe.blogspot.com

Lời bàn: Qua thực tế luyện tập ở Câu lạc bộ, chúng tôi nhận thấy rằng tư thế ngồi trên ghế, chân để xuống nền nhà, cẳng chân tạo thành góc vuông với đùi, lưng thẳng, cũng có tác dụng chữa bệnh rất tốt.
Thời gian ngồi thiền 15 - 20 phút chỉ có tác dụng làm dịu thần kinh, giảm stress, còn muốn chữa bệnh phải ngồi được tối thiểu là một tiếng. Nhiều bác ở Câu lạc bộ ngồi thiền tới 2 -3 tiếng mỗi ngày và kết quả thực đáng khâm phục.